Giấc mộng lớn (3/6)

Ở Hữu-thanh thôi về, đến tháng ba năm sau là năm nhâm-tuất, Gia-từ khứ thế; việc tang song hết, từ biệt các ông già trong hương quán, lại ra đi tìm cách sinh-nhai. Từ ấy đến nay, tính ra đà bẩy tám năm giời, chưa từng về đến gia-hương; mây non Tản, sóng sông Đà, chỉ tưởng tượng xa trông mà nhận đó là nơi cố-hương vậy. Cùng năm ấy, khoảng tháng tám, Tản-Đà thư-điếm thành lập, là cùng với hai người anh em bạn, một ông Tú, một ông Kép, cùng nhau gây dựng lên. Tản-đà thư-điếm đến sau hợp với Nghiêm-Hàm ấn-quán, gọi là Tản-đà tu-thư-cục. Các thứ sách Đại-học, Kinh Thi, Quốc-sử huấn mông.... xuất bản vào khoảng mấy năm ấy.

Năm 1925, ở xã-hội phong-trào kích thích, cái công việc làm sách, tự nghĩ quá là thanh nhàn. Nằm lâu muốn dạy, mới đầu đơn Chánh-phủ, xin tạp-chí An-nam. Năm 1926, tiếp nghị-định của Chánh-phủ cho phép, mà người bạn cũ của các bạn độc-giả Hữu-thanh năm xưa lại có một phen trận bút trường văn sẽ cùng nhau tương kiến.

An-nam tạp-chí đã được phép, sự hành-động còn chưa có đồng tiền nào, nhưng trong chỗ nhà ở thuê tại một nơi thôn quê ở gần tỉnh-lỵ Hà-đông, lại thuê thêm một chỗ nhà riêng, mời một ông trợ-bút và dùng một hai người chép văn, hãy cứ làm công việc tòa soạn. Sau đó rồi mấy lần lên Vĩnh-yên, Sơn-tây để đi vay, vay không được đồng nào, tiền hành-phí đeo nợ mấy chục bạc. Một hôm ở Sơn-tây về Hà-nội, là ngày mồng 4 tháng 5 ta, năm Bính-dần, trước đoan-dương một buổi. Bữa ăn tối hôm ấy, ở tại nhà người anh em đồng-tỉnh, là nghị-viên làm thầu khoán, thuê ở phố Hàng-Lọng, số nhà 50, — 52. Trong bữa ăn có ba người, chủ-nhân với mình và một người khách nữa, người khách ấy thời tự mình không biết là ai. Khi rượu uống vừa say, đàm đạo đến công việc tạp-chí, mình tự thán một câu rằng: « Cái việc đáng có vài ba nghìn bạc mới làm được, ở mình thời nếu chỉ có một trăm đủ làm, mà không thể nào có, ở đời thật nhiều lúc đáng buồn! » Câu chuyện nói song, ông khách cùng ăn cơm cảm-khái hứa giúp một trăm bạc, hẹn đến tám giờ tối hôm sau thời đưa. Đúng tám giờ tối hôm sau, có một trăm đồng bạc ấy của ai, mà tạp-chí An-nam được xuất bản.

Một trăm đồng bạc của ông khách đưa cho tối hôm ấy, ngày hôm sau đem giả nợ tiền hành-phí đi vay cùng là chi-tiêu về hai chỗ nhà thuê ở làng Xa-la tỉnh Hà-đông, tất cả hết đi năm mươi đồng; còn 50$00 để tổ-chức báo-quán. Lâm thời báo-quán chung với chỗ nhà thuê ở của người anh em là chủ-nhân bữa ăn ấy, tức là nhà số 50 — 52 Hàng-Lọng; bàn ghế, giây nói tiện-nghi cả. Việc in thời châm-trước với nhà in ở Hàng-Bồ, được giả sau sáu mươi ngày. Việc quảng-cáo cứ đưa các báo-quán, tiền sẽ giả sau. Vậy chỉ phải mua một cái biển An-nam tạp-chí và hai cái bàn viết là bàn giấy tòa soạn và bàn giấy trị-sự, tất cả lại hết đi hai mươi nhăm đồng; còn hai mươi nhăm đồng, giữ làm lương thực ở Ha-noi, bốn người, mình và một ông trợ-bút, một người thư-ký, một tên bếp. Các công việc tiến hành ngay từ ngày hôm mòng bẩy tháng ấy, sau đoan-dương hai hôm. Trước khi tạp-chí được ra đời, chừng khoảng cách ba ngày, tiền quĩ của nhà báo còn có hai đồng bạc, ngoài sự ăn, các sự phải tiêu dùng về việc báo cũng còn có nhiều sự cần khẩn. Bất-đắc-dĩ phải cậy ông trợ-bút sang Bắc-ninh vay lãi. Đưa ông cầm một nửa số tiền quĩ, tiễn xuống chân thang mà dặn theo ông rằng: « Dẫu đến bốn mươi phân cũng vay. » Vay được hai mươi đồng bạc, lãi mười lăm phân, giữ qua trong ba ngày mà An-nam tạp-chí xuất bản.

Tạp-chí đã xuất bản, tiền tiêu vặt trong hằng ngày không phải lo. Rồi mà người anh em cùng ở để lại cho thuê cả cái nhà, mỗi tháng ba mươi nhăm đồng. Tiền nhà in mỗi tháng gần tới bốn trăm đồng. Tiền xắm xửa các đồ cần dùng trong tòa báo, cùng là chỗ gia-quyến ăn ở, tân-bằng vãng lai, trước sau lục-tục có tới ba trăm đồng. Tiền ăn tiêu hằng tháng không có sổ chi tiêu, một là tạp chí về công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà người làm, ba là cung tiếp tân khách, lại hằng khi phóng phiếm vô íchi, mỗi tháng không biết là bao nhiêu. Vì mỗi tháng không biết bao nhiêu tiền chi tiêu, cho nên không bao lâu mà tòa tạp-chí An-nam lại như thể cái thành bị vây vậy.

Làm An-nam tạp-chí mười tháng giời, đáng ra phải có hai mươi số, sự-thực chỉ có mười số; tiêu hại tiền của xã-hội cũng đã lắm, rút lại lại không công-trạng gì. Khoảng đầu xuân năm đinh-mão, mưa xuân dữ, gió xuân không hòa, một cuộc chiến tranh của người an-nam mới bố cục, An-nam tạp-ch tạm đình bản, cờ vàng đảo ngọn, phiêu-lưu tên lính đội tiền-phong.

Mỗi một phen ra đời, lại một phen thất bại; mỗi một phen thất bại, đầu tóc lại bạc thêm. Trong ngày hôm 11 tháng 3 ta (12 4-27), tính toán các công nợ nhớn bé, chỗ giả chỗ khất; song rồi họp các người làm trong tòa báo cùng người nhà, rượu trè đàn địch, ăn chơi xuốt đêm. Giời gần sáng, đem số tiền tối hậu còn mười bốn đồng bạc, chia làm hai, một nửa giao cho người cháu thân chu-trí vợ con để đợi có ngoại-gia ra đón, một nửa là số tiền hành-phí cầm đi; còn bao nhiêu đồ vật, cùng là những tạp-chí ế còn lại, các sách truyện thu-thập và mới in để định chấn-trỉnh Tản-đà tu-thư-cục, nhất thiết cho là vô-khả-nại-hà, mặc người nhà phân phó. Sáng hôm ấy là ngày 12 tháng 3 ta (13-4-27), ở Hanoi ra đi, tối đến Nghệ-an, sáng hôm sau đến Hà-tĩnh.

Phân vân xã-hội gia-đình,

Hơi men ướp dạ, giọt tình thấm khăn.

Hai câu đó là cái tình trạng trong lúc uống bữa rượu trưa ở trên hỏa-xa khi khỏi Ninh-bình gần Thanh-hóa; còn như từ Hà-tĩnh giở vào, thời bao nhiêu cái hoài-cảm ở Honoi đem đi, dần dần tiêu tán, chỉ một là bận về sự giao-tiếp, hai là mê thiết sự du-quan. Ở Hà-tĩnh, nghỉ chơi nhà ông chủ giây thép, trò truyện vui cùng các anh em sĩ phu đến thăm. Rồi hỏi thăm cảnh-thắng quanh miền, đi chơi núi Sót.

Cách tỉnh-lỵ Hà-tĩnh chừng 15 cây số, có cảnh núi Sót. Núi ở ra ngoài bể, tức là một cái cù-lao con, có đất có đá, có mạch nước hằng tuôn. Dân cư ở gần đấy bắc ống bương lấy nước ăn, cũng như các mỏ nước ở trên mạn ngược ngoài Bắc. Tỉnh thành Hà-tĩnh cũng ăn nước ở núi ấy, có đường sông vận tải về. Những thuyền đi tải nước, lệ được bán mỗi gánh một đồng su. Hôm đi chơi núi là ngày 14 tháng 3 ta (15-4-27), giời mưa dầm, đường khó đi, phải thuê một cái xe hai người cu-ly, vừa đẩy vừa kéo. Qua sở muốn Hộ-độ, vào thăm xem, nhưng hôm ấy vì giời mưa cho nên không có phu làm muối, rồi đi luôn ra bãi bể. Để xe ở trên bãi, thuê một chiếc thuyền con bơi ra. Gió to, bay cả phên thuyền đưa xuống nước. Nghĩ đến câu « cơn giông biển nhớn, mái chèo thuyền nan », mới hay thân thế con người ta vần truyển ra sao, quả-nhiên có tiền-định. Sang tới núi, chèo lên uống chơi mấy khẩu nước, rồi đứng xem phong-cảnh. Giời lại mưa to dữ, bất-đắc-dĩ phải xuống thuyền quay về. Khi đó ngồi trong thuyền uống rượu, trông lên trên dệ núi, thấy những đứa trẻ con giai gái chạc mười hai mười ba tuổi, lánh mưa gió núp ở dưới cạnh hòn đá to. Hỏi người bơi đò thời đấy là những trẻ con bên xóm sang hái củi. Thuyền đã về tới bến, vào nghỉ chơi nhà người lái đò là ở trong một cái thuyền nhớn, uống nước, ăn thuốc lào; nhân nói truyện với chủ-nhân (chồng người bơi đò): muốn cúng ba đồng bạc để nhờ nhà chủ làm một cái lều danh con, phòng cho những trẻ con sang hái củi có chỗ núp mưa nắng. Người chủ thuyền, chạc chưa tới bốn mươi tuổi, không dám nhận hay không thế nào, chỉ xin mời ông cụ trưởng hàng xóm sang nói truyện. Một lát, thấy một ông cụ đầu bạc phơ, trông đến tám mươi tuổi giở lên, lại một bà cụ đầu bạc, cũng vào bực tuổi ấy, thời là hai vợ chồng ông cụ trưởng trong xốm cùng sang để nghe truyện. Ông cụ bà cụ đã cùng ngồi vào trong khoang, lại thấy đàn ông, đàn bà, trẻ con, kéo đến thật đông, đứng chen chật kín ngoài cửa thuyền, thời cũng là đến để nghe truyện. Đợi chúng đã yên tĩnh, mình mới thưa truyện với ông cụ bà cụ, cũng như ý nói với người chủ thuyền. Ông cụ khi mới nghe nói, cũng đáp lại không dám nhận, cho là: một thời sợ rồi việc quan hỏi đến có lỗi, hai nữa là hoặc có những đứa xấu bụng dỡ trộm làm củi thời cũng không thể giữ được. Nghe ông cụ nói như thế, mình phải nói kỹ rõ lại để mọi người cùng nghe rằng: về việc quan thời không lo, mình là một ông chủ tòa báo ở ngoài Bắc, nhân đi qua chơi xem phong-cảnh mà cúng ba đồng bạc để làm việc phúc đức, như thế thời người nhận tiền có việc gì mà ngại. Nhân đưa ông cụ một cái danh-thiếp, để có ai hỏi đến thời đưa ra mà nói là của người này cúng. Còn như sợ đứa nào ăn trộm, thời dẫu có như thế, cũng thôi không làm gì; nhưng ông cụ cũng nên nói truyện qua cho người trong xóm biết là của một người khách đi qua cúng như thế, thời có lẽ cũng không ai nỡ lấy trộm nào. Câu truyện nói đến thế, rồi ông lão mới vui-vẻ mà nhận lời cầm tiền, rồi bà lão cùng mọi người cũng mới vui-vẻ, các trẻ con rất vui-vẻ. Khi ấy, trước chỗ mình ngồi chừng có một hào tiền su, là tiền giả tiền đò còn thừa. Các trẻ con nhà lái-đò đến xin, cho mỗi đứa một su. Rồi còn lại su nào, các trẻ tự do tranh đến lấy. Những ông già người lớn thấy vậy, ai nấy đều của mắng con trẻ. Mình bảo cứ mặc trẻ cho vui; nhân nói truyện vui rằng: tôi năm nay ba mươi chín tuổi, ở nhà tôi cũng được hai đứa cháu giai, tuổi nó xuýt-xoát như thế này. Nay tôi đi chơi xa mà trông thấy những đứa trẻ đây, cũng coi như những đứa con của tôi ở nhà. Nói đến đấy rồi mình ôm lấy một đứa trẻ vào trong lòng, những đứa khác lại cũng tranh nhau sán đến để ngồi vào lòng mình, có đứa quần áo mũi nhãi rất bẩn-thỉu, mà trong khi đó cũng không kể sạch hay bẩn, mà yêu thời cứ yêu. Cơn vui đồng chủng đồng bào, tưởng như Ngư-phủ Đào-nguyên chưa hẳn có thú vui như thế vậy! Tan một cuộc vui đó, rồi đứng dạy từ biệt. Đầy thuyền tống tiễn, con cháu tiên rồng, hả cho ai tấm lòng xã-hội đã bao lâu; buồn cho ai vô trạng với quốc-dân, chỉ đoán trông con cháu rồng tiên gió mưa trên mặt nước.

Sáng hôm sau, ở Hà-tĩnh vào Huế. Chỗ Huế đã đi chơi lần trước, cho nên lần này qua, cũng không có gì hứng vị lắm; chỉ có thăm Bắc-kỳ-châu-phả, Nữ-công-học-hội, nghe ca lý trên sông Hương, đi xe giờ xem phong-cảnh, rồi nhân ở Huế chơi Thuận-an.

Cách Huế 15 ki-lo-mét, có phong-cảnh Thuận-an, tức gọi là cửa bể Thuận. Chỗ đó nếu bà già con trẻ đến chơi, có lẽ không lấy gì làm thú-hứng, mà cái giá-trị đối với người du-lãm, còn kém xa ở xứ Bắc chùa Hương. Tuy vậy mà những người con giai hơi có chút học vấn thời cũng nên biết qua, vì là một nơi thắng-cảnh có ở lịch-sử vậy. Nguyên từ ở Hà-tĩnh vào Huế, nghỉ hơi nhà một ông bạn độc-giả của An-nam tạp-chí, người làng Đa-ngưu ở Bắc mà làm việc sở lục-lộ ở Kinh. Hôm đi chơi Thuận-an, ông bạn bận ra sở làm việc, cho nên cử một người anh em bạn hành với mình, thuê một cái xe cùng đi. Rượu và các thức ăn, bà chủ-nhân chu-trí một cách rất hậu khách. Hơn bẩy giờ sáng ở Huế đi, khoảng mười một giờ đến cửa Thuận, ấy là ngày 18 tháng ba (19 avril 1927). Đến đó, xuống đò con đi ra, vì Thuận-an cũng là một nơi cù-lao, có xóm mạc. Lên hỏi thăm trong xóm, đi tới một chỗ có tường bao đã tàn hủy, quanh mãi về mặt trước là mặt trông ra bể, thấy cổng xây lối cổ, dữa đề to hai chữ 南 門 Nam môn. Hai bên dưới có câu đối rằng:

Lâm cự tẩm dĩ hoằng lượng;

Nhu viễn phương nhi dưỡng dân.

Bên hữu câu trên về phía trên, có hai chữ 御 製 ngự chế Bên tả câu dưới về phía dưới, có một giòng chữ

Tự-đức tam thập nhất niên, tứ nguyệt thập tứ nhật. Đó là những chữ đề về phần chữ nho. Lại trông lên ở trên hai chữ Nam-môn, cũng ở khoảng chính dữa, thời có một cái biển gỗ sắc. đen, trông cũng đã hơi cũ, có chữ tây đề rằng: Service forêtier Bồi-hồi chút lâu, rồi nghé vào trong cổng, thấy có người, nhân vào xin nước uống. Có một người ăn mặc lính ra tiếp, thời là lính kiểm-lâm, mà tức là người trông giữ cái khu đó. Trong lúc cùng ngồi chơi uống nước, trông lên có một tòa nhà to, nghe người lính nói truyện, thời chỗ đó nguyên xưa là hành-cung của đức Tự-đức, đến sau là sở quan binh của nhà nước Bảo-hộ, đến sau nữa là tòa điện-báo, sau nữa là nơi thừa-lương của quan công-sứ Thừa-thiên, hiện nay thời là nhà kiểm-lâm của mấy ông tây kiểm-lâm hằng khi có đi lại. Uống nước song, ra xem nhà bia, phải khuân bỏ các nong nia của nhà người lính để trong đó, rồi xem thấy bia của đức Giực-tôn, thơ Ngự-chế vịnh Thuận-an tám mươi vần. Đức Giực-tôn là ông vua hiếu văn, cho nên hay làm thơ, đến nay tuy thời-đại biến thiên, nơi hành-cung là sở kiểm-lâm, nhưng bia thơ ngự-chế vẫn còn vậy.

Xem bia song, từ tạ người lính kiểm-lâm rồi cùng nhau đi ra nhân hỏi thăm phong-cảnh, người lính trỏ đuờng đi lên đài. Đà là chỗ của Nam-triều đóng quân để giữ cữa Thuận-an khi trước. Đi một lát, gặp mấy ông cụ già trong xóm, lại hỏi thăm nữa, nhân cùng đứng cả lại nói truyện. Gần chỗ đứng nói truyện, có một cái mô con xây bằng gạch, trông đã hủy hoại, mấy ông cụ trỏ và nói rằng: đó là cái lò của các quan tây khi mới đến Thuận-an đắp để hầm bánh. Câu chuyện cũng còn muốn nghe nữa, song giời đã trưa quá, vội sự đi ra đài.

Cổng đài thật cao nhớn, đề ba chữ 鎭 海 關 Chấn-hải-quan. Nếu ai đi du lãm hồi xưa, thời trông lên rất uy vũ, mà có lẽ không dung-dị được vào. Khi đó chúng mình hai người vào, không thấy có ai hỏi, cũng không thấy có ai mà hỏi. Trong cổng, đất rộng có thể làm vườn ruộng, mà chỉ là bỏ hoang cho cỏ mọc. Ở dữa, một tòa nhà xây vuông rất cao nhớn, đó là đài. Chung quanh ở chân thành có những hình xây mui-luyện như cái chiếu tùm-hum, thời người bạn đồng hành bảo mình đó là những chỗ để thuốc đạn khi trước. Vào mãi đến sau đài, có một cái nhà danh nhỏ con, mà cũng không thấy có ai cả; chỉ ở dưới cái dàn bí xiêu vẹo, có một con chó con chạy ra cắn lắc-rắc. Cứ người lính kiểm-lâm và mấy ông cụ gặp ở đường đã nói truyện, thời ở đài có người gác, có nhẽ là đi vắng chăng? Trông vào cái nhà danh thời thấy cửa đóng mà không thấy có khóa, bất-đắc-dĩ phải đập cửa để hỏi. Đập gọi một lúc lâu, quả-nhiên ở trong có người dạy, thời chính là tên lính giữ đài mà ngủ trưa.

Chép đến đây, mừng có một sự rất may-mắn tự nhiên, là sao? Nguyên người lính giữ đài đó trước có đóng ở Huế, cho nên cùng với ông bạn cùng đi với mình có quen biết. Có một chút quen biết, mà trong sự đi chơi cũng có hơn.

Khi ấy người lính mời vào chơi uống nước, rồi dẫn khách lên xem đài. Mở cửa đài trông ra mặt bể, thật là mênh-mông bát-ngát, lại đương trưa giời nắng gió, khiến cho người du lãm dễ phát sinh cái cảm-tưởng sâu xa. Nền đài xây bằng đá, dưới có hầm, là của Nam-triều ta vật cũ. Phần trên, dui sắt, dầm sắt. thời chắc là của nhà nước Bảo-hộ mới làm sau, nhưng cũng đã dỉ đen, trông thành vật cũ vậy. Có một cái tủ to, trong chứa bát đĩa dao dĩa, những đồ dùng ăn cơm tây, hỏi người lính thời là đồ cần dùng của những học-sinh nam nữ của quý Đại-Pháp bảo-hộ ở Huế trong mấy tháng hè ra nghỉ đài. Mình hai người đi chơi hôm ấy, may không phải là ngày nghỉ hè, cho nên mới được hưởng cái hạnh-phúc tàn dư của Cô-Tô vậy. Lúc ấy, xem đồng-hồ đã tới một giờ chiều, đói và mệt, dở rượu và các thức đồ ăn, bầy bàn ghế, mượn bát đĩa, lại tần-phiền chủ-nhân cho một đĩa rau bí luộc, ăn một miếng, uống một chén, thật ngon; trông ra ngoài chỉ có bể cùng giời, rồi say tít lúc nào không biết. Khoảng ba giờ chiều, đương nằm ngủ say ở ngoài hiên bao-lơn. bị ông bạn đồng hành cưỡng bách đập dạy để đi về. Mặt giời đã sế dậm về còn xa, cho nên say đến đâu cũng phải tỉnh. Xuống đài, từ giã người lính gác rồi ra về, lại ngồi đợi đò một hồi lâu, hỏi nghe những người ở bến đò nói truyện, hợp với những câu truyện nghe mấy ông già gặp ở đường cùng là người lính gác đã nói, thời: chỗ Thuận-an đó, có hai xả. Thai-dương thượng và Thai-dương hạ thuộc huyện Hương-trà phủ Thừa-thiên. Dân cư có chừng trăm nóc nhà, lấy việc chài lưới làm sinh-nghiệp. Cũng có nhà làm việc buôn bán, thời cũng chỉ những thức cần dùng cho các nhà trong xóm, như dầu tây, mắm muối, diêm thuốc mà thôi. Quanh cù-lao, nghe người tây có định đánh một con đường ô-tô, có nhẽ cũng chỉ là sự chơi mát. Chính chỗ cửa bể trước thời đến nay cát lấp, chỗ cửa bể nay đó là luồng nước lại mới thông; nhưng bây giờ đi lại vắng tầu bè, chỉ là cái khu-vực của các ngư-ông ra vào hôm sớm. Trước kia hai nghìn quân đóng giữ Thuận-an, bây giờ một tên lính chấn hải. Thời đại xuy đi, giang sơn biến cải, thiên-công đa sự, nhân-sự vô thường. Người du quan mà khách văn-chương, khỏi sao tình-tự vấn-vương vậy. Về đến Huế, giời vừa tối. Tối lại đi chơi vào xem nhà hát tuồng. Cái quang-cảnh đông vui đầm ấm, thật là « thái-hòa võ trụ, ngọc-luật hồi xuân, trên chín lần mũ áo đai cân, dưới trăm họ âu ca cổ vũ. »

Ở Huế đã hơi lâu, sắp đi vào Đà-Nãng. Trước khi vào Đà-Nãng, có thăm hầu cụ Phan. Chỗ Cụ ở cách Huế nhiều ít, theo con đường Nam-giao lên tới, ở đó đã tiệm là phong-cảnh quê. Khi mình vào, thấy cụ đương nói chuyện với mấy người đàn bà con gái, ý là gia-quyến của cụ, dừng chân đứng ở dưới sân, rồi nhờ người đưa danh-thiếp lên. Cụ đứng dạy ra thềm để tiếp khách. Mình vái chào cụ rồi theo vào. Cụ bảo ngồi chơi ở ghế cạnh uống nước. Nghe Cụ đương dở nói chuyện với mấy người đàn bà con gái đó thời không phải gia-quyến, sau hỏi mấy thầy đồ ở đấy thời những người phụ-nữ đó là nữ học-sinh Quảng-ngãi và người mẹ ra đón mà vào thăm hầu Cụ khi trước mình. Đợi Cụ nói truyện với các người dứt nhời, rồi mình đứng dạy thưa rằng: « Chúng con ở ngoài Bắc, nhân muốn đi chơi vào trong Nam, tiện đường vào thăm hầu cụ, chúc cụ mạnh khỏe. » Cụ cũng bảo lại rằng: « Ừ, giang-sơn nước nhà, cũng nên đi cho biết. » Ngoài câu đó, cụ có hỏi qua về việc An-nam tạp-chí mấy câu. Rồi thấy có một ông cụ đến chơi, lúc mới, mình tưởng là khách quen của cụ, sau nghe nói thời cũng là một người ở Quảng-bình vào chơi với con học ở Huế mà đến thăm hầu cụ, cũng như mình và các người đàn bà con gái kia. Khi ấy mình đứng dạy đi xem các chỗ cụ ăn ngủ, thời trong nhà không có gia-quyến gì cả, chỉ có mấy người học-sinh còn trẻ tuổi ở biên chép những bài vở quốc-văn của cụ làm. Lại có sáu đứa học-trò coi chừng độ lên sáu lên bẩy tuổi, học song, sắp hàng để đi về. Hỏi những người học-sinh thời là các trẻ con nhà nghèo ở gần mà cụ bảo đến học cho vui, sự dạy thời do mấy ông học-sinh đó. Chỗ cụ ngồi chơi tiếp khách có cheo mấy bức ảnh vĩ-nhân hiện thời, lại cũng có những bức địa-đồ và các tranh cách-trí thời là thuộc về sự dạy học. Ngoài sân có cây đu thể-thao. Vườn dược lơ thơ, cây cối trông không có vun tưới. Xem qua khắp một lượt, vào chào cụ rồi ra về. Khi đó chừng đã hơn năm giờ chiều, ngồi trên xe trông lại, chỉ thấy trên nóc nhà gianh, ngang mấy chòm cây, bóng tà-dương nhạt lạnh lửng-lơ, có nhẽ là một bạn chí-thân thường năng đi lại với cụ Phan ta vậy.

Đến thăm hầu cụ Phan là 19 tháng ba ta (20-4-27), sáng hôm sau thời vào Tourane. Đi Tourane, cũng có một sự may, là nhân gặp một nhà tư-bản đã từng đưa mình đi chơi Huế khi trước; lần này gặp ở Huế, lại cùng đi Tourane. Dừng xe lên đính Hải-vân-quan, chơi xem cảnh thắng. Chỗ Hải-vân, kể như xưa cũng thật là hình thế. Quảng-nam với Huế, đường độc-đạo tương thông; cửa quan làm trên cao trông xuống đường, tức là ở ngoài Huế giữ trong nam kéo quân ra bắc. Tưởng như xưa đương hồi Nguyễn, Trịnh, Tây-sơn, đã bao nhiêu giọt máu đồng-bào, tưới cây thấm đất; đến nay thời cửa không tường đổ, họa chỉ là một nơi thắng-cảnh cho những khách du-quan. Trên cửa trước ba chữ 海 雲 關 Hải-Vân-quan; mặt cửa nữa sáu chữ 天 下 第 一 雄 關 Thiên-hạ đệ nhất hùng quan, sự tu-tạo đều về đời Minh-mạnh. Từ ấy đến nay thời nam bắc nhất gia, quan san vô sự, mây ngàn giăng bể, thơ thẩn cùng ai. Tiếc không được phong-lưu thanh nhàn, thường được cùng đôi ba bạn hữu hữu tình, cùng nhau đi chơi thăm những lũy cổ bia tàn, để quan san không tịch-mịch.

Vào Tourane, nghỉ ở nhà một ông phán làm việc ở sở Đoan mà cũng là người Bắc. Ở Tourane truyến này hơi lâu trước sau sáu bẩy hôm. vui cùng các sĩ phu, đi Faifo, vào Đồng-Dương, chơi Ngũ-hành sơn, thăm Quảng-nam thủy-cơ cục. Nay chép qua sự đi chơi Đồng-dương và Ngũ-hành-sơn.

Ngày 23 tháng ba ta (24-4-27), ở Faifo vào chơi Đồng-Dương là một nơi có di-tích của Chiêm-thành, nay thuộc phủ Thăng-bình tỉnh Quảng-nam, cách Faifo 40 cây số. Hôm đi chơi cũng nhờ có ông chủ rượu ở Faifo có xe nhà đưa đi. Tới Đồng-dương, viếng thăm phong-cảnh, xem chỗ đi-tích ấy, thời cung điện trùng-trùng, tượng lăn tường đổ, những cái tượng-hình đẹp khéo đã đem chứa ở nhà tích-cổ ở Tourane (Musé chiêm), đây chỉ còn mấy con voi đá vẫn đứng chơ ở dữa chốn tàn-cung, như vẫn tận trung cùng cố-chủ. Hỏi truyện những thôn-dân ở đấy thời trong làng hiện có hai họ, họ Trà và họ Phạm, vậy tức là những họ vua Chiêm khi trước còn có chép ở sử Nam ta, mà nghĩ cho đồng-hóa đã lâu, có nhẽ tự người nói truyện kia cũng không tự biết vậy. Hơn được kém thua, đào-thải lệ chung của tạo-hóa. Sợ thay!

Chơi Ngũ-hành-sơn là ngày 24 tháng ba (25-4-27), cùng với ông phán sở Đoan cùng Phu-nhân và một người bạn hành nữa cùng đi. Hôm ấy, chiều giời phong-quang, giòng sông êm-ái, thuyền nan nhẹ mái, thật có vẻ thanh nhàn. Bầu rượu túi thơ, khách chơi lối cổ; non xanh đá đỏ, cảnh những chờ ai. Trải xem các chỗ động Tàng-xuân, chùa Linh-ứng, chùa Vân-ứng, động Vân-không, chùa Tam-thai. đài Vọng-hải, rồi ăn cơm ở động Huyền-không. Khi đó uống rượu ngon, cao hứng thơ, mới được hai câu rằng:

Rủ nhau lên động Huyền-không,

Bụi trần chút sạch như không có gì.

Hết Giấc mộng lớn (3/6)

Đây là chương 4/7 của Giấc mộng lớn. Giấc mộng lớn là tự truyện của Tản Đà (1889–1939).

Chuyện đến đâu rồi?

Tản Đà kể lại đời mình từ thuở thơ ấu ở Sơn Tây, mối tình thầm kín với cô hàng Bồ không thành và những lần thi hỏng, rồi ông lánh đời ở Non Tiên và Cổ-đằng. Ông lập ra tạp-chí An-nam nhờ một trăm đồng của vị khách, nhưng báo chỉ ra được mười số rồi đình bản vì nợ nần. Sau đó ông cùng bạn bè vào Trung, cúng tiền cho dân chài núi Sót và đi qua Thuận-an, Huế, Hội An, Ngũ Hành Sơn để thăm cụ Phan.

Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Giấc mộng lớn.

Giấc mộng lớnGiấc mộng lớn (3/6)
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 7 chương

  1. Tựa3 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Giấc mộng lớn (1/6)6 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Giấc mộng lớn (2/6)9 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Giấc mộng lớn (3/6)21 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Giấc mộng lớn (4/6)10 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Giấc mộng lớn (5/6)7 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Giấc mộng lớn (6/6)12 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)