Cuốn thứ nhứt (2/4)
Khi Đổ-khắc-Xương đã về rồi, mà bà phủ vẫn còn trầm-trồ khen mãi, bà lại nói với Mộ-Trinh rằng: « Nầy con, má thấy Đổ-khắc-Xương thiệt má thương nó quá; thằng sao tuổi tuy còn nhỏ mà phẩm hạnh đoan trang, cử chỉ đàng hoàng, nói năng nho nhã, ngặt vì nhà nó thì nghèo, mà tánh cha con thì khó quá, chớ phải tánh cha con mà cũng được như tánh má đây vậy, chẳng cần sự giàu nghèo, miễn là tài đức cho vẹn toàn là đủ; thì má gả con cho nó để hầu sửa trắp nưng khăn, cho tròn ơn tròn nghĩa. » Mộ-Trinh nghe bà nói bấy nhiêu lời, dường như đánh trúng tim đen, nên nàng cũng muốn tỏ thiệt ý mình cho bà nghe, ngặt cái nghề con-gái mới lớn lên, hễ nói tới việc vợ chồng thì hay mắc-cỡ miệng, cho nên nàng dợm đã đôi ba phen, vừa muốn mở miệng ra, rồi nàng lại nín. Bà phủ thấy vậy đã biết ý con, bèn hỏi gạy đầu rằng: « Theo ý má thì như vậy, ý con nghĩ sao? » Mộ-Trinh ban đầu còn hơi xẻn-lẻn, hồi lâu nàng mới thưa rằng: « Nếu má quả có lòng thương chàng như vậy, thì con mới dám tỏ thiệt cái tâm-chí của con cho má nghe. Vã con có nghe danh Đổ-khắc-Xương rằng ở với mẹ cha rất nên chí-hiếu, ở với cô bác xóm-diềng lại có lễ nghĩa khiêm cung, nho-học cũng thông, tây-học cũng giỏi; giàu sang không bợ-đỡ, nghèo khó chẳng khinh-khi, thật là hiếu nghĩa vẹn hai, đức tài gồm đủ; nếu nay mà má muốn chọn được rể hiền, thì như chàng vậy con mới đành trao thân gởi phận. Huống chi cổ-ngữ có câu rằng: Nam nữ thọ thọ bất thân. Mà lúc con bị chìm đò chới-với giữa dòng, chàng ra ơn cứu vớt, bồng ẵm con mà đem được lên bờ; đã biết rằng vì gặp cơn nguy cấp thế ắt phải tùng quyền, song xét cho kỉ lại thì dường như con đã thất thân nơi chàng rồi, nếu ngày sau mà con chẳng được kết đôi bạn với chàng, thì thà là con ở vậy trọn đời, chớ con chẳng hề chịu mang danh thất tiết đâu. » Bà phủ nghe lời con nói phải, thì bà cũng khen thầm, song bà vẫn biết ý chồng, cho nên bà tỏ ý lo buồn và nói rằng: « Con nghĩ như vậy thật cũng phải lắm đó con; ngặt vì tánh-tình cha con thì khác, má không biết tính lẽ nào để thỉnh-thoản má dọ thử ý cha con coi thể nào cho biết. » Mộ-Trinh nghe nói cũng làm thinh, bèn trở vô buồng chuyện vãn với Lệ-Dung cho tiêu-khiển.
Chẳng dè lúc hai mẹ con đương nói chuyện với nhau, thì Lệ-Dung đã đứng núp dựa cữa buồng rình nghe rõ hết; nên khi Mộ-Trinh bước vào thì Lệ-Dung liền ngó mặt mà cười và nói rằng: « Ấy rõ ràng là Thiên tùng nhơn nguyện đó, nên mới khiến cho bà cũng đem dạ thương chàng, nếu vậy thì cái cuộc nhơn-duyên của chị sau nầy thiệt đã có ảnh-hướng rồi đó đa chị à. » Mộ-Trinh nói: « Ủa! Té ra những lời của má chị nói chuyện với chị nãy giờ đó, em đã rõ hết rồi sao? Thật khó quá đi em. Ý của má chị thì vậy, còn ý của cha chị thì khác hẳn đi thôi; không biết sau nầy mà chị có được mãn nguyện cùng chăng? Vã hôm nay chị đã xem thấy rõ ràng, như chàng vậy thiệt là người hào-hoa phong-nhã, tài-mạo lưỡng toàn; theo như lời em xem tướng mà luận với chị hôm nọ thiệt quả chẳng lầm. Nhưng vậy mà chị còn e nhiều nỗi lắm em.
— Việc gì mà chị lo nhiều lắm vậy?
— Không lo sao được. Nầy em! Một là chị e cho cha chị chê chàng nghèo mà không chịu gả; hai là chị lại e cho bên kia, không biết chàng có ý gì mà nghĩ đến chị hay chăng? Nếu chàng mà quả vô tình, còn mình đây, không lẽ mà mình tự đi làm mai-mối cho mình; thế ra, dầu chị em mình có tính gì cho lắm đi nữa cũng là vô ích.
— Việc đó em đã liệu rồi.
— Em liệu sao?
— Nếu muốn cho rõ được ý chàng, thì chị phải mua một hộp khăn mu-soa (khăn hỉ-mũi) cho thiệt tốt, rồi chị em mình phải chịu khó ít đêm mà thêu trong mỗi cái khăn một cặp chim oan-ương cho khéo, rồi đem mà cho chàng, mượn cớ rằng nhờ ơn cứu tử, nên phải tạm chút vật hèn để làm kỷ-niệm; vã lại hổm rày nào là bạc tiền, nào là lễ vật, ấy là mình toan ơn trả nghĩa đền, mà chàng đã nhứt-nhứt không dùng, thì cũng đã đành; chớ như nay mà mình tặng có 3 cái khăn nầy, không lẽ mà chàng đi nỡ đành lòng từ nữa; mà hễ chàng chịu lãnh mấy cái khăn nầy rồi thì việc ra thể nào, chị em ta ắt sẽ rõ được ý chàng, chớ không khó. » Mộ-Trinh nghe Lệ-Dung nói dứt lời thì mĩn cười mà nói rằng: « Tuổi em còn nhỏ mà kiến-thức rất cao, thiệt chị không bì kịp. » Nói rồi liền lấy tiền trao cho Lệ-Dung, bảo nàng ra chợ mua một hộp khăn và các thứ chỉ màu đem về mỗi đêm hai chị em thức thêu với nhau. Khi thêu rồi bèn đem cất để vào rương, chờ có dịp sẽ gởi cho Đổ-khắc-Xương mà dọ ý chàng-ta cho biết.
Ngày kia quan phủ lại tiếp được giấy của quan Tòa, phú cho ông tra xét một vụ kiện tranh điền thổ thuộc về trong quận của ông, nên ông phải dạy lính sắm sửa ghe hầu cho ông đi làm ăn-kết (enquête). Ở nhà hai chị em bàn tính với nhau, muốn dùng dịp ấy đặng đem hộp khăn qua mà cho chàng Đổ. Bàn tính xong rồi, Mộ-Trinh liền giã ý nhức đầu, sai Lệ-Dung đi kiếm lá xông, rồi thừa dịp đi luôn qua nhà chàng Đổ.
Nhằm lúc Đổ-khắc-Xương đương ngồi trong nhà mà xem nhựt-báo, bỗng nghe chó sủa om-sòm, bèn ngước mặt ngó ra, thấy Lệ-Dung nét mặt tươi cười, ngoài sân xâm-xuối bước vào. Chàng ta liền buông tờ nhựt-báo, đứng dậy chào mừng và hỏi rằng: « Hôm nay cô lại đến đây, hoặc cô đi chơi, hay là bà lại cho kêu tôi mà dạy bảo đều chi nữa chăng? » Lệ-Dung nói: « Dạ, thưa không phải bà tôi sai biểu; tôi qua đây là bỡi vâng lời chị hai tôi mà.. .. » Đổ-khắc-Xương nghe nói tới đó trong lòng khắp-khởi mừng thầm, liền vội-vàng rước hỏi nàng rằng: « Ủa! Nói vậy, té ra cô hai sai cô qua đây, mà có việc chi chăng cô? » Lệ-Dung chúm-chím miệng cười và đáp rằng: « Thưa có việc cần, nên em mới qua đây. » Và nói và mở hộp khăn ra, đem để trên bàn ngay trước mặt chàng, rồi nói tiếp thêm rằng: « Nhơn vì lúc nọ chị tôi nhờ ơn thầy cứu tử, thiệt cái ơn tái tạo nầy ví như sông biển, đền đáp đã ghe phen mà thầy không chịu lấy, từ ấy nhẫng nay, chị tôi vẩn hằng cạnh-cạnh nơi lòng, không hề quên được; nên nay chị tôi phải thêu một chục khăn nầy, dạy tôi đem qua cho thầy để làm kỷ-niệm, vật hèn chút đỉnh, thiệt chẳng đáng chi; nhưng mà, đó là cái công khó của chị tôi thức-thối mấy đêm, xin thầy chớ phụ. Khi tôi ra đi chị tôi lại đinh-ninh dặn bảo tôi rằng, nếu cái hộp khăn nầy mà nó được ở với thầy, thì dầu cho đến cũ đến rách, nó cũng còn nhờ hạnh-phước đó. » Đổ-khắc-Xương nghe nói mĩn cười và đáp rằng: « Ấy là lời của cô hai quá tặng đó mà thôi, chớ kẻ bất tài nầy là một người đức bạc, có phước chi đâu mà được như lời cô hai dạy vậy. » Và nói và mở hộp khăn xổ ra từ cái mà coi, thấy cái nào cũng có thêu một cặp oan-ương thật khéo, tuy là chim thêu trong vải mà xem ra rất có tinh-thần. Chàng ta vừa xem vừa nghĩ, thì đã hiểu cái thâm-ý của nàng rồi, trong lòng khắp khởi mừng thầm, bèn nói với Lệ-Dung rằng: « Công lao chút đỉnh, tôi đâu dám gọi là ơn, lẽ thì tôi chẳng dám thọ lãnh vật gì, ngặt vì tôi thấy cô hai đã dụng tâm như vầy, nếu tôi từ chối vật nầy thì thành ra tôi là người vô tình vô vị, cho nên tôi phải tạm lãnh của nầy. Vậy xin cô hãy tạm đình gót ngọc mà đợi tôi một vài phút đồng-hồ, để tôi viết một bức thơ mà đáp tạ hậu-tình, nhờ cô đam về trao giùm lại cho cô hai, thì tôi lấy làm may-mắn lắm đó. » Lệ-Dung gặt đầu và xin vâng lời. Đổ-khắc-Xương liền bước lại bàn viết ngồi suy nghĩ một mình rằng: « Nàng Từ-mộ-Trinh mượn cớ tạ ơn, lại thêu trong mỗi cái khăn mỗi cặp oan-ương mà cho ta như vầy đây thì kỳ trung nàng đã hữu tình hữu ý với ta rồi; gia dỉ những lời của Lệ-Dung đã nói khéo với ta nảy giờ đó, nếu gióng lại cho kỷ mà coi thì cũng quả quyết như lời ta liệu vậy, thế ra Từ-mộ-Trinh nầy quả là một người tri-kỷ của ta rồi, chớ chăng còn nghi ngờ chi nữa. Vậy thì bây giờ đây ta phải dụng ý cách nào mà hồi đáp với nàng, đặng làm cho nàng rõ được ý ta rằng cũng đồng tâm đồng chí với nàng vậy. » Suy nghĩ hồi lâu, vùng nhớ lại mấy cây quạt rất tốt của cha chàng mua ở Bắc-kỳ đã gởi về cho chàng mới hôm tuần trước. Chàng liền lựa lấy một cây thiệt tốt, rồi vẽ vào hai nhánh ngô-đồng, phía trên lại vẽ một cặp chim, tức là con chim loan với con chim phụng, hai con đậu trên hai nhánh ngô-đồng đương đâu mỏ với nhau. Vẽ xong xếp lại, cắt một rẻo vải quyến hình như sợi giải, lại lấy viết đề vào sợi giải một chữ đồng rất to, buộc chặt chung quanh cây quạt, rồi mới lấy giấy gói phong tử tế, đam lại trao cho Lệ-Dung chúm chím miệng cười mà nói rằng: « Gia-đạo bần hàng, thiệt không có vật chi là quí, vậy sẵn có cây quạt Bắc-kỳ, của nghiêm-thân tôi mới gởi về cho tôi đây, nên tôi học họa hồ-lô, bắt chước theo cô hai cũng vẽ một cặp chim, nhờ cô đem về trao giùm lại cho cô hai và thưa với cô hai cho rõ rằng tôi cũng tạm chút vật hèn nầy mà gọi là đáp lễ; nếu cô hai mà chẳng chê của tục vật hèn, thì trọn một đời của kẻ bất-tài nầy lấy làm may-mắn lắm vậy. » Lệ-Dung đứng dậy nét mặt tươi cười, hai tay lãnh lấy gói quạt, giấu để trong mình, rồi mới từ giả Khắc-Xương mà dời gót. Chàng Đổ cũng theo đưa ra tới cữa ngỏ phía ngoài, rồi mới trân trọng vài lời mà trở lại.
Khi Lệ-Dung về rồi, chàng Đổ ngồi lại một mình giở mấy cái khăn ra xem đi xem lại hoài, trong lòng mừng quá đổi mừng, đến khi chàng nhớ lại cái tánh-tình của quan phủ thì chàng lại giựt mình, vì biết cha chàng là người thanh-bạch, hoặc là ông không chịu làm suôi với quan phủ nầy, rồi mình phận làm con; mới biết liệu sao đây. Một mình suy tới nghĩ lui, rồi lại gặt đầu mà nói rằng: « Ờ! Bây giờ ta mới nhớ lại, lúc cha ta còn ở nhà, mỗi khi người nói chuyện với mẹ ta thì người vẩn thường hay nói câu nầy: « Thiệt là kỳ quá đi mụ, quan chủ-quận của mình đây là Từ-thế-Anh, vẫn là một người tánh tình sâu sắc, kiến lợi vong nghĩa, thiệt là một tay tham phú phụ bần; mà sao người lại sanh được một nàng con gái, nết na hiền hiếu, lại thêm ngôn hạnh đoan trang; ấy mới biết, cây đắng lại sanh trái ngọt, thật rõ ràng lời tục ví chẳng lầm. » Lúc ấy mẹ ta lại đáp rằng: « Hay là tại nàng nhờ cái đức của mẹ nàng chăng, vì tôi có nghe bà phủ nầy là người hiền-đức lắm mà! » Cha ta lại gặt đầu mà nói rằng: « Có khi phải đó. » Như thế thì ta ắt cũng còn có chỗ trông mong kết tóc xe tơ với nàng là nhờ có mấy câu chuyện nầy chăng. » Nghĩ như vậy rồi chàng mới bớt lo, bèn an lòng mà chờ dịp.
Đây nhắc lại việc nàng Lệ-Dung, khi ra về cũng giả ý kiếm một bó lá xông đem về giao cho người đờn-bà nấu ăn dưới bếp, dặn nấu để sôi cho được 10 phút đồng-hồ rồi sẽ bưng lên cho cô hai xông. Dặn xong, bèn trở lên nhà trên bước thẳng vào buồng; Mộ-Trinh vừa ngó thấy Lệ-Dung bước vào thì cười và nói bởn rằng: « « Mèn ơi! Tùy-Hà đi Sứ đã về, thiệt tôi không hay mà viểng tiếp chớ! » Lệ-Dung cũng mĩn cười mà đáp lại rằng: « Mà cũng thật là may, nên mới khỏi nhục kỳ quân-mạng đó chị. » Nói rồi hai chị em lại cười xoà với nhau. Rồi đó Lệ-Dung liền lấy cái gói quạt ra trao cho Mộ-Trinh. Mộ-Trinh tiếp lấy, chưa hiểu thể nào, đến lúc mở ra, thấy đủ các món, bèn làm thinh nhắm nhía và suy nghĩ một hồi, rồi ngó Lệ-Dung miệng cười lỏn-lẻng mà nói rằng: « Nầy em! Chị đã hiểu ý chàng Đổ rồi đây em, còn em nghĩ thể nào? » Lệ-Dung nói: « Thì chị cứ giải rõ cho em nghe, thử coi có hiệp ý-kiến với nhau chăng? » Mộ-Trinh bèn chỉ từ món mà nói với Lệ-Dung rằng: « Nầy em! Đây là sợi giãi, mà chàng lại đề một chữ Đồng nơi phía trong lòng, mà lòng tức là chữ Tâm: ấy là giãi-đồng-tâm đó em, chàng lại lấy sợi giãi nầy mà buộc chặt vào cây quạt. Ấy có phải là chàng quyết kết chặt cái giãi-đồng-tâm, chẳng còn nghi ngờ gì nữa. » Lệ-Dung gặt đầu, miệng cười tủm tỉm. Mộ-Trinh lại sè cây quạt ra, chĩ cho Lệ-Dung coi mà nói rằng: « Nầy là hai nhánh Ngô-đồng, cũng hiểu là hai chữ đồng-tâm. Chí như hai con chim loan và chim phụng mà đâu mỏ với nhau đây, là chàng tỏ ý rằng chàng muốn cho loan phụng hòa minh, đôi lứa sum vầy, trăm năm kết cánh đó, có phải vậy chăng em? » Lệ-Dung cười rằng: « Hay! Thiệt quả là hay!! Chị liệu sự như thần, thiệt không sai một mảy. » Mộ-Trinh lại nói với Lệ-Dung rằng: « Việc tuy thì làm vậy, song chị còn e vị tấc mà chàng biết được rằng chị đã hiểu ý chàng hay chưa. Vậy để chị viết thêm một phong thơ cho chàng chắc ý, và xin em hãy chịu khó với chị một phen nữa mới xong. » Nói rồi liền lấy giấy viết thơ, niêm phong tử tế, trao cho Lê-Dung mà dặn rằng: « Nầy em, hãy đi cho mau rồi về cho chóng em nghé! » Lệ-Dung vâng lời lãnh thơ đi liền.
Đây nói về Chàng Đổ, từ khi trao cây quạt cho Lệ-Dung đem về cho Mộ-Trình rồi, trong lòng thồi thộp chưa biết may rũi thể nào, bổng thấy Lệ-Dung ngoài ngõ bước vào miệng cười chúm-chím tay trao bức thơ và nói rằng: « Chị tôi mong ơn thầy gởi cho cây quạt, nên phải tạm kính đôi lời gọi là tỏ ý tạ ơn; vậy xin thầy hãy coi cho kỷ lấy bức thơ nầy thì mới rõ được tất dạ chí-thành của chị tôi vậy. » Đổ-khắc-Xương lòng mừng khắp khởi, vội vàng mở bức thơ liền, té ra chẳng thấy nói một câu gì, duy thấy có một tờ giấy xắp đôi, thoa keo chính giữa cho dính khắn lại, phía trước có đề một chữ Nhứt, mà phía sau cũng là một chữ Nhứt. Chàng-ta ngơ ngẫn, chưa hiểu làm sao, suy nghĩ hồi lâu rồi mới tỉnh ngộ, liền ngó Lệ-Dung mà cười và nói rằng: « Nầy là ý cô hai muốn nói: Khăn khắn một lòng thỉ chung như nhứt đây, có phải vậy chăng! Thiệt cô hai là một người thông-minh tuyệt thế, việc gì cô cũng hiểu rõ ý tôi; thế thì rõ ràng cô là một bạn tri-kỷ của tôi đấy. Vậy xin cô trở về thưa lại với cô hai cho rõ rằng kẻ bất-tài nầy xin lãnh ý của cô hai, dầu đến thác tôi cũng chẳng dám sai dời tất dạ vậy. » Lệ-Dung nghe nói rất khen thầm và kính phục chẳng cùng, rồi đó nàng liền đứng dậy từ giã quày quả ra về; đem hết mấy lời của chàng Đổ mà thuật rõ lại cho Mộ-Trinh nghe. Mộ-Trình thấy vậy lại càng khen phục, bèn dặn dò Lệ-Dung rằng: « Nay tuy là chàng đã rõ tấm lòng của chị, mà chị đây cũng biết được ý chàng rồi thì mặc dầu, song em cũng nên thủ khẩu như bình, chớ chẳng khá hớ hinh mà lậu việc; để thỉnh thoãn cho mẹ chị dọ thử ý cha chị xem coi thể nào rồi sau sẽ tùy cơ ứng biến. » Lệ-Dung nghe nói cũng gặt đầu khen phải.
Từ đó hai chị em ăn ngủ chẳng yên, ngày đêm vẩn cứ lo thầm, sợ e quan phủ chuộng chỗ giàu sang mà ép-uổng.
Ngày kia quan phủ đang ngồi trong dinh bổng thấy tên lính chạy vào bẩm rằng: « Bẩm ông, có ghe quan Đốc-phủ chủ-quận châu-thành đến viếng, ghe mới vừa đậu tại bến cầu. » Quan phủ nghe chưa dứt lời thì đã vội vàng đứng dậy đi liền, xuống đón tại bến cầu mà nghinh tiếp. (Nguyên quan Đốc-phủ-sứ nầy tên là Phạm-nhứt-Thanh, nhờ có quan trên yêu chuộng, cho nên oai thế của ngài ít ai bì kịp; các quan chủ-quận trong tĩnh, ông nào ông nấy cũng khiếp oai, làng tổng dân tình thảy đều sợ ngài cũng như sợ cọp.
Khi quan phủ rước ngài vào dinh rồi liền hối lính hầu khui rượu la-ve ra cho ngài giải khát. Lúc hai đàng đương ngồi uống rượu với nhau, quan phủ bèn hỏi rằng: « Không mấy khi quan-lớn đến đây, làm cho bồng-tấc sanh huy, thiệt tôi lấy làm vinh hạnh chẳng cùng, song chẳng biết có công-sự chi chi, hay là tư sự? » Quan Đốc-phủ mĩn cười và nói rằng: « Không, chẳng có việc chi, chẳng qua là tôi dùng dịp trong hai ngày lễ nghỉ hầu mà đi chơi, nhơn đi ngang qua đây, tiện đường tôi ghé thăm ngài để đàm đạo chơi vậy mà.
— Thiệt tôi rất cám ơn quan-lớn. Trẻ bây! rót rượu thêm cho Quan-lớn đây bây.
— À! tôi có nghe lịnh-ái năm nay cũng đã trộng rồi há! Chẳng hay cháu nó đã được mấy tuổi rồi vậy ngài?
— Dạ. bẩm quan-lớn, năm nay nó mới được 18 tuổi, mà nó còn khờ quá đi quan lớn.
— Hứ! Ấy chẳng qua là ngài quá khiêm đó mà thôi, chớ tôi có nghe người ta đồn đãi ngợi khen nó lắm mà! Được đa, tuổi đó vừa lắm đa. Nầy ngài! Chuyện anh em mình chớ không phải người nào, vậy để tôi xin lỗi với ngài mà nói xắp một cái cho rồi..............
— Dạ, bẩm quan-lớn, có việc chi thì quan-lớn cứ nói, không hề chi, vì tôi là em-út của quan-lớn.
— Nầy ngài! có một chỗ, họ muốn cậy tôi làm mai, đi nói con cháu đây, thằng đó năm nay mới có hai mươi tuổi mà cha mẹ nó giàu quá đi ngài.
— Chẳng hay con ai ở đâu vậy quan-lớn?
— Người đó là anh em chú bác với tôi, tên là Phạm-hữu-Ngọt, nhà cữa ở tại Ba-Xuyên, giàu lớn lắm, mỗi năm thâu lúa ruộng hơn hai trăm ngàn giạ lận đa ngài; nhờ có mấy kỳ quốc-trái ảnh giúp cho nhà nước vay nhiều quá, nên ãnh được thưởng chức huyện hàm.
— Thằng đó có học hành chi chăng quan-lớn? mà nó tên gì?
Quan Đốc-phủ-Sứ ngần ngừ một hồi rồi nói:
— Có chớ! mà đều.........
— Mà đều......... mà đều........ sao a quan-lớn?
— Mà đều nó học ít một chút, mắc nó là con câng, vì anh huyện tôi, sanh có một mình nó là trai, cho nên ảnh chỉ hay câng nó quá. Bỡi vậy nó học trường tĩnh gần thi lấy xẹt-típ-phi-ca (certificat) rồi nó thôi, không chịu học nữa, để thả đi chơi hoài, hai vợ chồng anh huyện tôi mới tính kiếm vợ cho nó, đặng có buộc chơn buộc cẳng nó lại đa ngài. Tên nó là Phạm-hữu-Chanh.
— Tuổi còn trai tráng, niên phú lực cường, sao nó không lo học cho tới, để bỏ uổng quá quan-lớn há!
— Ngài nói cũng phải, nhưng mà, Ối! Buổi nầy là buổi huỳnh-kim thế giái, có chi mạnh cho bằng thế-lực kim-tiền đâu ngài. Nó dốt thây kệ nó, miễn là lúa cho đầy bồ, bạc cho đầy tủ thì thôi, một năm hai ba trăm ngàn giạ lúa ruộng chớ ít ỏi gì sao, dầu nó dốt thì dốt, chớ nó có sợ ai. Phải vậy không ngài?
Quan phủ nghe nói ít học thì có hơi buồn, song vì hai trăm ngàn giạ lúa ruộng mỗi năm, nó làm cho ngài cũng phải điếc tai chóa mắt; nhưng mà, ngài vẩn biết ý bà, nên tính để dọ lại coi, chớ chưa dám hứa; bèn nói với quan Đốc-phủ rằng: « Bẫm quan-lớn, đã biết rằng tôi đây là nhứt gia vi trưởng thì mặc dầu, song tôi cũng còn phải hỏi lại mẹ-bầy-trẻ tôi, coi ý bả thể nào, rồi trong vài bữa tôi sẽ cho quan-lớn hay.
— Vậy cũng được, thôi, để tôi kiếu ngài tôi về, rồi bề nào xin ngài cũng cho tôi hay cho sớm sớm vậy nghé, tôi có lòng trông tin ngài lắm đa. Á mà nầy ngài! Ráng lấy nghé! Chỗ đó giàu lớn lắm đa!! Đừng bỏ qua, uổng lắm đa ngài.
Quan phủ theo đưa quan Đốc-phủ xuống ghe rồi mới trở lên, đi thẳng vào nhà tư, kêu bà phủ ra mà nói rằng: « Nầy mụ! Nay có quan Đốc-phủ-sứ Phạm-nhứt-Thanh đến thăm tôi và ngài lại làm mai, muốn nói con gái mình cho thằng cháu của ngài, nó kêu ngài bằng chú, nhà nó ở dưới Ba-Xuyên; cha nó là ông huyện hàm Ngọt, giàu có lớn lắm, ngặt có một đều thằng đó nó ít học một chút, chớ lúa ruộng của cha nó mỗi năm tới hai ba trăm ngàn giạ lận bà. » Bà phủ nghe ông nói dứt lời thì sắc mặt bà không vui, bà bèn trả lời một cách rất lạt lẽo rằng: « Nó giàu thì giàu, chớ tôi không ham, vậy chớ ông không biết ý con-gái của ông hay sao?
— Sao? Mụ nói sao? Ý con gái tôi sao? Nó cải tôi được hay sao???
— Vã con-gái của mình là một đứa biết đều, học hành cũng giỏi, cầm kỳ thi họa chẳng thua ai, nay ông muốn đem nó mà gã cho một đứa ít học, tôi e nó chẳng vừa lòng, vậy chẳng là tội nghiệp cho nó lắm chăng ông?
— Nó ít học mà nó giàu to kia kìa!
— Ai lại chẳng biết nó giàu, tưởng là ai kìa, chớ thằng con trai của ông huyện Ngọt; ông tưởng tôi không biết nó hay sao? Cái thằng làm sao mà chẳng những là dốt nát mà thôi, lại thêm hình dung thô-bỉ, ăn nói cộc-cằng, đen thui đen thít; chắc là cỏn nó có chịu ở đâu.
— Mà người ta nói nó giàu đây nè! lúa ruộng hai trăm ngàn giạ mỗi năm, mụ biết hông?
— Ông cứ chưng cái giàu của nó với tôi hoài, mấy trăm ngàn giạ thì mấy trăm ngàn giạ chớ! Vậy chớ ông không nghe câu tục-diệu người ta hát đó sao?
— Câu tục diêu gì? Họ hát làm sao??
— Câu tục-diêu người ta hát rằng: Chẳng tham bồ lúa anh đầy, tham ba hàng chữ cho tày thế gian. Câu tục-diêu đó, chớ câu tục-diêu gì.
— Hứ! Khéo bày đặt không? Hay chữ cho bằng giữ ăn? Mụ đừng có cải tôi mà! »
Bà phủ thấy ông, ý muốn đổ quạu, bà liền day mặt chỗ khác mà nói một cách rất nhỏ nhẹ rằng: « Ai mà cải ông làm gì, đều tôi nghĩ lại cái công của tôi sanh ra được có một chút gái, mình hạt xương mai, lại thông minh tót chúng, tôi cũng muốn chọn cho được một đứa rể hiền, chẳng luận giàu nghèo, miễn làm sao cho tài đức vẹn toàn, đặng mà gả nó cho xứng đôi vừa lứa thì tôi mới được đẹp mặt nở mày; không dè mà ngày nay, ông ham có hai trăm ngàn giạ lúa ruộng mỗi năm, mà ông muốn vùi dập con gái tôi như vầy, nên tôi mới nói cho ông nghe, chớ tôi có cải ông làm chi; nó là con của ông, ông muốn gả nó cho ai cũng tự ý, duy tôi chỉ xin ông phải nghĩ lại một đều nầy là đều cần nhứt: Phàm hễ vợ chồng mà thương yêu nhau, quyến luyến nhau, là bỡi có cái mối ái-tình, nếu nó không có ái-tình mà mình cứ ỷ quyền cha mẹ ép-uổn nó, thì về sau ắt cũng dở-dang, chớ không có thế nào buộc nó ở đời với nhau cho lâu được; thế thì ép nó mà có ích gì? Tuy nói thì nói vậy, chớ nó là con của ông, ông cứ hỏi lấy nó, chớ tôi đâu dám cải. » Quan phủ liền kêu Mộ-Trinh ra, đặng hỏi ý con cho biết.
Chẳng dè những câu chuyện của hai ông bà tranh cải với nhau nảy giờ, Mộ-Trinh đã núp lén rình nghe, đầu đuôi đà rõ hết, nên nàng ở trong buồng đã khóc lóc với Lệ-Dung rồi. Khi nghe quan phủ kêu tới tên nàng, thì nàng cũng phải ép lòng rén rén bước ra, mặt hoa ủ-dột, lụy ngọc dầm-dề. Quan phủ đương sẵn trớn giận bà, lại thấy tình-hình của nàng như vậy, nên ngài cũng giận luôn, bèn nạt lớn lên rằng: « Chuyện gì mà khóc? Khéo không? Hèn chi người ta hay nói, hễ mẹ nào thì con nấy, thiệt cũng phải lắm chút! Sao? Chỗ giàu sang như vậy mà con còn chê hay sao?? Đó! con nghĩ coi, nhà người ta thì giàu có lung, lại cũng là một ông huyện hàm chớ phải lôi thôi hay sao? Huống chi Bác của nó là quan Đốc-phủ-sứ, vẩn là một người rất có quyền-thế hơn cha, mà nay người lại đứng làm mai cho nó nữa, thì là chỗ giàu sang tột bực, còn ức hiếp nỗi gì? Con hãy nghe lời cha mà ưng phứt cho rồi, đừng có nghịch ý mà làm cho cha thêm giận. » Mộ-Trinh thấy cha đương lúc nóng nãy nên nàng chẳng dám nói chi, cứ đứng khóc hoài. Bà phủ thấy vậy, lại rước mà nói rằng: « Tôi xin ông bớt giận mà để cho tôi phân rõ một đôi đều, phàm hễ vợ chồng mà biết quí trọng nhau, biết yêu thương nhau, là bỡi có cái mối ái-tình cao thượng, có ái-tình rồi mới tương đắt với nhau, chừng ấy chồng lo việc ngoài, vợ lo việc trong, mỗi người đều giữ theo chức-nhiệm của mình, tương y tương ỷ với nhau, thượng hòa hạ mục, phu xướng phụ tùy; không ai khinh thị ai, không ai hiếp chế ai, chung vui chung buồn, đồng tâm hiệp ý; được như vậy, dầu cho làm vợ một tên sĩ nghèo cũng còn có thú vui, chớ như ham mấy chỗ sang giàu, rủi nhằm công-tử Bột, những hạng người ấy, phần đông đều là bọn ỷ của, dâm dật tánh thành, họ coi đờn-bà con-gái cũng như một món đồ chơi, để vuốt ve nựng niệu trửng bỡn cho thỏa lòng; thoản như có đều nào mà không vừa ý họ, thì đã thấy họ ly dị liền, chớ họ có biết chi là đạo tình thâm nghĩa trọng. Còn nói tới việc tình, thì họ lại lấy đều dâm-dục luyến-ái mà gọi là tình, chớ họ có rõ đâu được cái mối tình cho chánh-đáng. Tình mà chánh-đáng ấy, là phát ư lễ, chỉ ư nghĩa, chẳng dâm chẳng loạn, mới gọi là tình; bằng chẳng vậy thì là cầm thú chi tình, chớ ai gọi là tình cao thượng! Chí như ông Ngọt mà được thưởng chức huyện hàm, thì bất quá là nhờ có thế-lực kim-tiền, chớ ổng có công-lao hạn-mã chi đâu, mà cũng chẳng phải là ổng có tài bộ gì, thì cái hàm ấy ai cho là quí. » Quan phủ nghe bà nói tới đó thì lại càng nổi xung, vùng nạt lớn lên rằng: « Mụ đừng có nhiều chuyện, khéo bắt chước ai mà nói cái giọng cầu cao; nếu mẹ con mụ mà cải lời tôi, thì đừng trách số. » Quan phủ miệng thì la ó, mà mặt thì cứ hầm hầm. Mộ-Trinh thấy cha tánh tình nóng nãy, lại thêm đương lúc giận-duổi mà nổi trận lôi đình, nên nàng cứ làm thinh, chỉ có khóc ròng, mà bà phủ cũng nín luôn, chẳng dám nói rằng chi nữa hết.
Cách chẳng bao lâu, ông lại tiếp được thơ của quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh gởi đến cho ông mà cần thúc hỏi thăm việc ấy. Việc cấp bức như vậy, ông chẳng biết tính sao, nếu gởi thơ trả lời mà hẹn nữa, thì lại sợ mít lòng quan Đốc-phủ, nên ông tính hồi âm mà chịu bốc cho êm; rồi lần lần sẽ dụng lời ngon ngọt dỗ dành, không lẽ mà con mình nó dám cải. Nghĩ như vậy rồi ông liền viết thơ hồi âm cho quan Đốc-phủ mà hứa chịu gả con gái của ông cho con trai ông huyện Ngọt.
Khi quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh tiếp được tin lành, mừng vui chẳng xiết, liền viết thơ gởi xuống Ba-Xuyên mà cho quan huyện Ngọt hay, bảo phải chọn ngày và sắm đủ lễ-vật đem lên, đặng có đi bỏ trầu cau cho sớm.
Ngày giờ thấm thoát, lật bật mà đã trót một tháng ngoài, dưới kia ông huyện Ngọt đã coi được ngày, tương lễ-vật bỉ bàn, đi một chiếc tàu hơi rất to, lên ghé tại Mytho rước quan Đốc-phủ Phạm-nhứt-Thanh, rồi thẳng xuống đến dinh quan phủ Từ-thế-Anh mà đi lễ hỏi.
Hết Cuốn thứ nhứt (2/4)
Đây là chương 2/10 của Tài mạng tương đố. Tài mạng tương đố là tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).
Chuyện đến đâu rồi?
Câu chuyện xoay quanh Đỗ Khắc Xương, chàng trai sa sút ở Chợ Gạo sau khi cha đi Bắc Kỳ làm thầu khoán. Một đêm đắm đò trên sông Mỹ, Xương liều mình cứu Từ Mộ Trinh, con gái quan phủ, và từ đó hai người nảy sinh tình ý. Bà phủ có lòng mến Xương, còn Mộ Trinh cùng người ở đợ Lệ Dung đưa tin qua khăn thêu, quạt vẽ và tờ giấy có chữ Nhứt. Thế nhưng quan phủ tham giàu, đã nhận lời gả con cho Phạm Hữu Chanh, và lễ hỏi đã được đưa đến nhà quan phủ.
Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Tài mạng tương đố/Cuốn thứ nhứt.