Câu chuyện đối-đáp của người tiều-phu núi Na

Đất Thanh-hóa phần nhiều là núi, bát-ngát bao-la đến mấy nghìn dặm. Trong đó có một ngọn núi cao chót-vót, tên gọi núi Na. Núi có cái động, dài mà hẹp, hiểm-trở mà quạnh-hiu, bụi trần không bén đến, chân người không bước tới. Hằng ngày trong động có người tiều-phu gánh củi đi ra, đem đánh đổi lấy cá và rượu, cốt được no say chứ không lấy một đồng tiền nào. Hễ gặp ông già trẻ con dưới đồng bằng, lại nói chuyện những việc trồng dâu trồng gai một cách vui-vẻ. Ai hỏi họ tên nhà cửa, tiều-phu chỉ cười không trả lời. Mặt trời ngậm núi, lại thủng-thỉnh về động. Người đương thời cho là người thuộc hạng Thần-môn Tiếp Dư, chứ Thái Hòa trở xuống đều không đủ kể.

Sau đến năm Khai-đại nhà Hồ, Hán Thương đi săn, chợt gặp ở đường, thấy đương vừa đi vừa hát rằng:

Na chi sơn hữu thạch toàn ngoan

Thụ thương thương

Yên mịch mịch

Thủy sàn sàn

Triêu hề ngô xuất

Mộ hề ngô hoàn

Hữu y hề chế kỹ

Hữu bội hề nhận lan.

Thát bài thanh hề bình hiểu chướng,

Điền hộ lục hề trẩm tình than.

Nhậm tha triều thị

Nhậm tha xa mã

Tri trần bất đáo thử giang-san.

U thảo Tống triều cung kiếm,

Cổ khâu Tấn đại y quan

Vương Tạ phong-lưu

Triệu Tào sự nghiệp

Toán vãng cổ lai kim khanh tướng,

Thạch triện đài man

Tranh như ngã trạo đầu nhất giác

Hồng nhật tam can.

Dịch:

Núi Na đá mọc chênh-vênh,

Cây tùm-um, nước long-lanh khói mờ.

Đi về hôm sớm thẩn-thơ,

Mình dư áo lá, cổ thừa chuỗi hoa.

Non xanh bao-bọc quanh nhà,

Ruộng đem sắc biếc xa xa diễu ngoài.

Ngựa xe võng lọng thây ai,

Nước non riêng chiếm, bụi đời khôn vương

Áo đai đời Tấn gò hoang,

Kiếm cung triều Tống dưới làn cỏ xanh

Sự đời bao xiết mong-manh

Phong-lưu Vương, Tạ, công-danh Triệu, Tào

Từ xưa khanh tướng ngôi cao,

Đá mờ rêu phủ đã bao nhiêu rồi.

Sao bằng ta được thảnh-thơi,

Giấc mai bừng tỉnh mặt trời lưng không.

Hát xong rồi phất áo đi thẳng. Hán-Thương đoán chắc đó là một vị ẩn-giả, bèn sai quan hầu là Trương-công đi theo mời lại. Nhưng Trương theo gần đến nơi thì người ấy đã rảo bước vào động, vội gọi cũng không trả lời, chỉ thấy cưỡi mây lách khói, đi thoăn-thoắt trong khoảng cành tùng khóm trúc. Biết đó không phải là người thường, bèn rón bước theo sau, rẽ cỏ lấy đường, đi ước chừng 2, 3, dặm. Song đường núi gập-ghềnh, càng vào sâu càng khó đi lắm, rồi trong thoắt chốc đã chẳng thấy người ấy đâu cả. Ngẩng lên trông, tà-dương đã gác đầu núi, cây cỏ đã bắt đầu lờ-mờ, bàng-hoàng muốn về, nhưng đã không kịp. Bỗng nghe thấy có tiếng gà gáy ở trên một chòm cây trúc, Trương mừng mà rằng:

— Đây đến chỗ có nhà người ở cũng không xa gì.

Chống gậy trèo lên thì thấy có một cái am cỏ, hai bên tả hữu trồng mấy cây kim-tiền, chen lẫn vào những cây bích-đào hồng-hạnh, đều xanh tốt đáng yêu cả. Trong am đặt một cái giường mây; trên giường để đàn sáo và chiếc gối dựa. Hai bên bức vách đông tây đều chát keo trắng và đề hai bài ca, một bài là « Thích ngủ », một bài là «Thích cờ».

Bài ca thích ngủ

Ngô hà ái? ái duy miên,

Ái vị an thư tính thích nhiên

Thiển mặc trướng thiêm tân phú quý

Ủy đằng sàng kết cựu nhân-duyên

Mai chi hiên trúc chi viên

U cư thú vị hữu lâm tuyền.

Thanh nô ủng hậu

Hồng hữu la tiền

Môi dẫn hắc điềm thắng,

Cảnh lương tứ khinh biền

Song yểm nhĩ hồng trần thế thượng,

Tiểu khúc quăng bạch ốc vân biên

Kỳ ngạo thảo lư, Nam dương nhàn nhật-nguyệt

Khiếm thân Vân-quán, Triệu-Tống trích sơn xuyên

Bắc song ngâm hồn dị súc,

Tây đường xuân mộng thường viên

Thư lâu sơ quyển tịch,

Tửu điếm dục tình thiên

Huyền-hạc Hoàng châu dạ dạ

Mỹ-nhân Tương thủy niên niên

Hữu thời hướng túy hương đả ngọa

Thảo phô nhân, hoa phô ốc, địa phô chiên

Bành trạch dạ thâm, bán liêm tàn nguyệt;

Liêm khê viện tĩnh, nhất trẩm đề quyên.

Nhiệm nhân đạo vi lãn phu sĩ, vi khát thụy hán, vi ẩn thần tiên.

Dịch:

Thích gì? ta thích ngủ thôi,

Vì chưng ngủ được trong người sởi-sang.

Nhân-duyên xe chặt giường màn,

Trúc, mai, rừng, suối, muôn vàn cảnh thanh.

Quanh mình bạn đỏ hầu xanh

Giấc ngon bừng tỉnh tâm linh nhẹ vèo.

Bưng tai chuyện thế eo sèo,

Khoanh tay ngất-ngưởng nằm khoèo bên mây

Lều tranh một túp xinh thay,

Nam-dương nọ kẻ tháng ngày thảnh-thơi.

Quán Vân uể-oải nằm dài,

Non sông coi nhỏ kìa ai Tống triều

Lầu tây song bắc tiêu diêu

Khi mai quán rượu, lúc chiều hiên thơ.

Sông Tương người đẹp trong mơ,

Châu Hoàng bóng hạc vật-vờ cao bay

Có khi ngủ tít làng say,

Đất giường, cỏ đệm, hoa vây làm màn.

Uyên-minh ngủ dưới trăng tàn

Liêm-khê gối chợp tiếng ran quyên gào

Chê khen ai bảo thế nào:

Đồ lười biếng, bậc thanh cao, mặc lòng.

Bài ca thích cờ

Ngô hà ái? ái duy kỳ,

Ái vị phong vân biến thái kỳ.

Liệt xứ loại long xà thất thế,

Thắng biên như hùng hổ dương uy.

Xa song trì, mã song phi

Độ hà nhất tốt kháo trùng vi

Bắc nam tương giới, hình thế tương y

Phương viên động tĩnh, diệu toán vô di

Xuân tịch tịch xạ khao tàn mộng

Thủ dao dao lung toái hương nê,

Độc lạc viên trung, tân bằng sơ định hậu,

Hoàng châu lâu hiểu, mính đính bán tinh thì.

Chú vĩnh thiên lưu khách cửu,

Am cao tử lạc thanh trì

Viện giao dung thiếp tảo

Liêm hứa tiểu-đồng khuy

Doanh thâu đổ giang-sơn bán cục

Công danh tiêu đắc thất nhàn ky

Hồn bất giác nhất thiên hướng tịch

Nguyệt tà song, yên tà triện, trúc tà chi

Lãng uyển thần tiên, nhàn trung độ nhật,

Trường-an công-tử, túy lý vong quy

Tương đối xứ kiêm ta cầm, kiêm ta họa, kiêm ta bích đề thi.

Dịch:

Thích gì? ta thích cờ thôi

Gió mây biến hóa ai ôi lạ-lùng.

Cơn thua, rồng rắn khi cùng,

Mà xem lúc thắng hổ hùng dương oai.

Ngựa xe giong ruổi đường dài,

Sang sông một tốt hãm ngoài trùng vi.

Bắc nam hình thế riêng chia,

Tới lui động tĩnh tính suy đủ đường.

Xuân êm khua tỉnh giấc vàng,

Con cờ đập mạnh hương đàn thoảng bay

Vườn riêng sum-họp bạn bầy,

Châu Hoàng lầu Trúc rượu say nửa vời

Ngày dài lưu khách ngồi chơi,

Am cao điểm tiếng quân rơi trước bàn.

Tiểu-đồng ngấp-ngó bên lan,

Cô hầu quanh viện quét làn lá rơi,

Giang-sơn vật lộn tay đôi,

Công-danh quên bẵng chuyện đời hơn thua.

Ngày vui thời khắc êm đưa,

Trăng tà hương lạnh trúc ngơ-ngẩn cành.

Thần tiên nhàn-nhã vườn quỳnh,

Trường-an công-tử thích tình vui say.

Trong khi vui nước cờ hay,

Thêm đàn thêm rượu thêm đầy vách thơ.

Bấy giờ tiều-phu đương ngồi ở cái hiên đá, dạy con chim yểng học nói; bên cạnh có vài cậu trẻ nhỏ ngồi đánh cờ. Thấy Trương đến, tiều-phu kinh-ngạc mà rằng:

— Chỗ này quạnh-vắng, đất thẳm rừng sâu, chim núi kêu ran, muông rừng chạy vẩn, sao ông lại lần-mò tới đây như vậy, chẳng cũng khó-nhọc lắm ư?

Trương nói:

— Tôi là chức quan Cung-phụng của đương-triều; vì ngài là bậc cao-sĩ, nên tôi được vâng mệnh đến đây tuyên triệu. Hiện có loan giá ở ngoài kia, xin ngài ngoảnh lại một chút.

Tiều-phu cười mà rắng:

— Ta là kẻ dật dân trốn đời, ông lão già lánh bụi, gửi tính-mệnh ở lều tranh quán cỏ, tìm sinh-nhai trong búa gió rìu trăng, ngày có lối vào làng say, cửa vắng vết chân khách tục, bạn cùng ta là hươu nai tôm cá, quẩn bên ta là tuyết nguyệt phong-hoa, chỉ biết đông kép mà hè đơn, nằm mây mà ngủ khói, múc khe mà uống, bới núi mà ăn, chứ có biết gì đâu ở ngoài là triều-đại nào, là vua quan nào.

Bèn mời Trương ở lại đó làm làm một mâm thết, cơm thổi bằng hạt điêu-hồ, canh nấu bằng rau cẩm-đái, lại còn có mấy món rau suối khác nữa. Canh khuya chuyện trò, đều là những lời nghĩa-lý đáng nghe cả, nhưng không có một câu nào đả-động đến thời-sự. Hôm sau, Trương lại mời;

— Những bậc quân-tử đời xưa, không phải là không muốn giúp đời hành đạo; khi mà giấu kín một chỗ, chỉ là còn đợi giá mà thôi. Cho nên tất có bức tiểu-tượng đi tìm rồi sau đồng Thương mới thấm nước, tất có cỗ hậu-xa đi chở, rồi sau nội Mục mới thành công. Nay phu-tử lấy tấm thân vàng ngọc, ôm một bọc kinh-luân, ngoài vòng vinh lợi, vùi lấp tiếng tăm trong đám ngư-tiều, dấu tài trí trạch, náu mình chốn rừng suối, vang tiếng đến cửu-trùng, đốt nón lá, xé áo tơi, nay chính là đến lúc rồi đó. Dám xin bỏ bờ đập Phò-nham, ném cần câu Vị-thủy, đừng để uổng hoài khát-vọng của bao kẻ thương sinh.

Tiều-phu nói:

— Kẻ sỉ ai có chí nấy, hà tất phải vậy! Cho nên Nghiêm-Tử-Lăng không đem chức Gián-nghị ở đông-đô, đánh đổi khỏi sóng Đồng-thủy, Khương Bá-Hoài không đem bức tranh vẽ của Thiên-tử, làm nhơ non nước Bành-thành. Tài ta tuy kém, so với người xưa chưa bằng được. Nhưng may lại giàu hơn Kiềm-Lâu, thọ hơn Vệ-Giới, no hơn Viên-Tinh, đạt hơn Phụng-Thiến, kể thì cũng đã được trời đất ban cho khá nhiều. Nếu lại còn tham cầu những cái ở ngoài phận mình, len-lỏi vào đường sĩ tiến, chẳng những xấu-hổ với các bậc tiền hiền, lại còn phụ-bạc với vượn hạc ở trong núi nữa. Vậy xin ông đi đi, đừng nói lôi thôi gì nữa.

Trương nói:

— Ngài cho là hiện-thời không đủ để cho ngài làm việc được chăng? Nay có đấng Thánh-nhân ngự-trị, bốn bể đều ngóng trông, người Chiêm dâng đất mà xưng thần, quân Minh nộp lễ để xin lui. Lão-qua, Đại-lý các nước cũng đều tranh nhau quy-phục. Hiện chỉ còn thiếu các bậc dật-nhân ở rừng núi ra mà giúp rập, khiến cho huân-đức của Chúa-thượng được sánh cùng các vua Nghiêu, Thuấn ngày xưa. Ngài nếu định trọn đời ẩn-lánh, bắt-chước như Vụ-Quang, Quyên-Tử, thì cứ như vậy không sao. Nhưng nếu còn hơi để ý đến đám dân kia thì bỏ lỡ dịp này không ra, tôi sợ rằng sẽ cùng cỏ cây cùng nát, không bao giờ lại có được dịp gặp-gỡ hay này nữa.

Tiều-phu biến sắc nói:

— Như lời ông nói, há chẳng là khoe-khoang quá, khiến cho người nghe phải thẹn-thùng. Vả vì vua ngự-trị bây giờ, có phải là họ Hồ không?

— Chính phải.

— Có phải là đã bỏ khu Long-đỗ để về ở đất An-tôn không?

— Phải.

— Ta tuy chân không bước đến thị-thành, mình không vào đến cung-đình, nhưng vẫn thường được nghe tiếng ông vua bây giờ là người như thế nào. Ông ấy thường dối-trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân để dựng cung Kim-âu, dốc cạn của kho để mở phố Hoa-nhai, phao-phí gấm-là, vung-vãi châu-ngọc, dùng vàng như cỏ-rác, tiêu tiền như đất bùn, hình-ngục có của đút là xong, quan-chức có tiền mua là được, kẻ dâng lời ngay thì phải giết, kẻ nói điều nịnh thì được thưởng, lòng dân động-lay, nên đã xảy việc quân sông Đáy, cõi bờ chếch-mếch, nên đã mất giải đất Cổ-lâu. Vậy mà các kẻ đình-thần trên dưới theo hùa, trước sau nối vết. Duy có Nguyễn Bằng-Cử có lượng nhưng chậm-chạp, Hoàng Hối-Khanh có học nhưng lờ-mờ, Lê Cảnh-Kỳ giỏi mưu tính nhưng không quyết-đoán, Lưu Thúc-Kiệm quân-tử nhưng chưa được là bậc nhân; còn ngoài ra phi là đồ tham tiền thì là tuồng nát rượu, phi là đồ chỉ lấy yên-vui làm thích, thì là tuồng lấy thế-vị mà khuynh-loát nhau, chứ chưa thấy ai biết những kế lạ mưu sâu để lo tính cho dân-chúng cả. Nay ta đương náu vết ở chốn núi rừng, lo lảng tránh đi chẳng được, há lại còn xắn áo mà lội nữa ư?. Xin ông vui lòng trở về, làm ơn từ-chối hộ kẻ cư-sĩ này. Ta không thể đem hòn ngọc Côn-sơn cho nó cùng cháy ở trong ngọn lửa Côn-sơn được.

Trương nói:

— Sự xuất-xử của bậc người hiền, lại cố-chấp đến như thế ư?

Tiều-phu nói:

— Không phải là ta cố-chấp. Ta chỉ ghét những kẻ miệng lưỡi bẻo-lẻo, đã đắm mình vào trong cái trào-đình trọc-loạn, lại còn toan kéo người khác để cùng đắm với mình.

Trương lặng im không trả lời, trở về đem hết những lời của tiều-phu tâu lại với chúa. Hán-Thương không bằng lòng, nhưng còn muốn đem cỗ xe êm để cố đón ra kỳ được, sai Trương lại đi vào lần nữa. Nhưng vào đến nơi thì rêu trùm cửa hang, gai-góc đầy núi, dây leo, cành rậm, đã lấp mất cả lối đi rồi. Chỉ thấy ở trên vách đá có hai câu thơ đề bằng nhựa cây như sau này:

Kỳ-la hải-khẩu ngâm hồn đoạn,

Cao-vọng sơn-đầu khách tứ sầu.

Nghĩa là:

Kỳ-la cửa bể hồn thơ đứt,

Cao-vọng đầu non dạ khách buồn.

Ý lời như giọng trào-phúng của họ Nguyên họ Bạch, thể chữ như lối triện lệ của ông Lưu ông Tư, nhưng rút lại chẳng hiểu là định nói gì, Hán Thương cả giận, sai đốt cháy núi; núi cháy hết vẫn không thấy gì, chỉ thấy con hạc đen lượn lờ trên không bay múa. Sau hai Hồ gặp phải tai-họa đều đúng như lời thơ.

Gã tiều-phu ấy, có lẽ là kẻ sĩ đắc đạo đấy chăng?

Lời bình

Than ôi, có cái thần để biết việc sau, có cái trí để giấu việc trước, đó là việc của Thánh-nhân; tiều-phu, tuy là bậc hiền, nhưng đâu đã được dự đến hạng ấy. Tuy nói việc táng-bại của nhà Hồ, đúng như lá bới cỏ bói rùa, nhưng chẳng qua là nghiệm với lẽ trời, chứng với lòng người, nói nhiều may ra thì tin, đó là cái lẽ đi như vậy. Kẻ làm vua chúa nên lấy sự chính lòng mình để làm cái gốc chính triều-đình, chính trăm quan, chính muôn dân, đừng để cho kẻ xử-sĩ phải bàn ra nói vào là tốt hơn cả.

Hết Câu chuyện đối-đáp của người tiều-phu núi Na

Đây là chương 15/23 của Truyền kỳ mạn lục. Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm truyền kỳ của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI), bản dịch tiếng Việt của Trúc Khê Ngô Văn Triện (1901–1947).

Chuyện đến đâu rồi?

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tập truyện thần quái, ma quỷ, được viết sau khi tác giả từ quan về ở ẩn để phụng dưỡng mẹ già. Từ đầu đến chương 15, người đọc đã gặp nhiều câu chuyện lạ: Hồ Tôn-Thốc mơ gặp Hạng Võ, người vợ bị bán Nhị Khanh hiện về trách móc, Trình Trung Ngộ chết vì yêu ma, và Từ Thức lấy tiên rồi bỏ đi. Chương 15 kể về người tiều phu núi Na từ chối lời mời ra làm quan, rồi biến mất, để lại hai câu thơ trên vách đá.

Tác giả và dịch giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Truyền kỳ mạn lục.

Truyền kỳ mạn lụcCâu chuyện đối-đáp của người tiều-phu núi Na
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 23 chương

  1. Tiểu truyện ông Nguyễn Dữ2 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Tại sao có bộ sách Truyền-kỳ mạn-lục2 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Văn-chương và tư-tưởng trong sách Truyền-kỳ mạn-lục5 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Câu chuyện ở đền Hạng-vương10 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Chuyện người nghĩa-phụ ở Khoái-châu13 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Chuyện cây gạo11 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Chuyện gã Trà-đồng giáng-sinh13 phút đọc · Lồng tiếng
  8. Chuyện kỳ-ngộ ở trại Tây17 phút đọc · Lồng tiếng
  9. Chuyện đối-tụng ở Long-cung13 phút đọc · Lồng tiếng
  10. Chuyện nghiệp-oan của Đào-thị16 phút đọc · Lồng tiếng
  11. Chuyện chức phán-sự ở đền Tản-viên9 phút đọc · Lồng tiếng
  12. Chuyện Từ-Thức lấy vợ tiên15 phút đọc · Lồng tiếng
  13. Chuyện Phạm Tử-Hư lên chơi thiên-tào10 phút đọc · Lồng tiếng
  14. Chuyện yêu-quái ở Xương-giang10 phút đọc · Lồng tiếng
  15. Câu chuyện đối-đáp của người tiều-phu núi Na12 phút đọc · Lồng tiếng
  16. Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông-trào9 phút đọc · Lồng tiếng
  17. Chuyện nàng Túy-Tiêu14 phút đọc · Lồng tiếng
  18. Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà-giang7 phút đọc · Lồng tiếng
  19. Chuyện người con gái Nam-xương10 phút đọc · Lồng tiếng
  20. Chuyện Lý tướng-quân11 phút đọc · Lồng tiếng
  21. Chuyện Lệ-nương13 phút đọc · Lồng tiếng
  22. Cuộc nói chuyện thơ ở Kim-hoa11 phút đọc · Lồng tiếng
  23. Chuyện tướng Dạ-xoa11 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)