Câu 1–104
Nhẽ trời đất thường khi gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu chóng tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh bình ba trăm năm cũ,
Áo nhung trao quan vũ từ đây.
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào.
Đường rong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn bằng độ hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Tiếng roi cầu Vị, độn vào gió thu.
Ngòi đầu cầu, nước trong như lọc,
Đường bên cầu, cỏ mọc còn non.
Ðưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước trong chảy, lòng phiền chẳng rửa,
Cỏ xanh thơm, dạ nhớ không quên.
Nhủ rồi tay lại trao liền,
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
Lòng thiếp tựa bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa muôn cõi nghìn non;
Đặt chén tiễn múa Long Tuyền,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử ;
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay!
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã tới ngoài doanh Liễu
Ngựa sau còn ở nẻo Tràng Dương
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch ruổi xa chừng lăng lắc.
Hàng cờ bay bóng ngất mờ mờ.
Dứt tay theo lớp mây đưa.
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng thì chạy cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Những màu mây biếc, cũng ngần núi xanh
Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãi trông sang.
Khói Dương Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Dương Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Chàng từ chạy vào nơi gió bụi,
Ðêm trăng này nghỉ mát phương đâu?
Xưa nay chiến địa dường bao!
Núi không muôn dặm xiết lao dãi dầu!
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,
Dòng nước sâu, ngựa giận chân bon.
Ôm yên, gối trống đã chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua.
Hình khe thế núi gần xa,
Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi, buổi chiều như gội,
Nước lòng khe, nẻo lõi còn sâu.
Não người áo giáp bấy lâu,
Lòng quê qua đó mặt rầu chẳng khuây.
Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ?
Dạng chinh phu ai vẽ cho nên?
Tưởng chàng rong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi Hãn hải thì miền Quan san.
Đã trắc trở đòi ngàn xà hổ
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong,
Lên cao trông thức mây lồng,
Lòng nào là chẳng động lòng bi thương?
Từ chạy sang đông nam ngất nẻo
Biết rằng chàng tiến thảo nơi đâu?
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây
Nức hơi mạnh ơn dày từ trước;
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu?
Non Kỳ mộ chỉ trăng treo,
Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu tử sĩ mấy người,
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
Dấu binh lửa, nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai: già cõi chiến trường,
Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về.
Hết Câu 1–104
Đây là phần 1/4 của Chinh phụ ngâm. Chinh phụ ngâm là tác phẩm thơ của Đặng Trần Côn (khoảng 1710–1745), bản dịch tiếng Việt của Đoàn Thị Điểm (1705–1748; có ý kiến cho là Phan Huy Ích, 1751–1822).
Chuyện đến đâu rồi?
Chinh phụ ngâm kể về một người vợ tiễn chồng ra trận theo lệnh vua. Chàng trai trẻ hào kiệt bỏ bút nghiên theo đao cung, lên đường giữa tiếng trống và sự tiễn đưa của người vợ, còn nàng đứng nhìn theo bóng cờ, lòng buồn dằng dặc. Đoàn quân vượt qua gió lạnh, sông sâu, núi cao, còn người vợ ở nhà chỉ biết hình dung những gian khổ ấy qua bức tranh trên trướng gấm. Chương khép lại nơi chiến trường hoang vắng với xương tử sĩ nằm đầy núi, và hình ảnh người chinh phu bạc tóc khi trở về.
Tác giả và dịch giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm dịch).