Câu 209–312
Lòng này gửi gió đông có tiện,
Nghìn vàng xin gửi đến non Yên,
Non Yên dù chẳng đến miền.
Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời
Trời thăm thẳm xa vời khôn thấu,
Nỗi nhớ chàng đau đáu nào xong.
Cảnh vui người thiết tha lòng,
Hình cây sương giọt, tiếng trùng mưa phun.
Sương như búa bổ mòn gốc liễu.
Mưa dường cưa cưa héo cành ngô.
Đòn tuyết phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa tiếng khơi.
Vài tiếng dế, nguyệt lay trước ốc,
Một hàng tiêu, gió thốc ngoài hiên.
Màn trong lan sổ gió xuyên,
Trăng lơi hoa bóng soi lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt, nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông,
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu!
Ðâu xiết kể muôn sầu nghìn não.
Từ nữ công, phụ xảo đều nguôi,
Biếng cầm kim, biếng đưa thoi,
Oanh đôi thẹn dệt, bướm đôi ngại thùa,
Mặt biếng tô, miệng càng biếng nói
Sớm lại chiều, dòi dõi nương song;
Nương song luống ngẩn ngơ lòng.
Vắng chàng điểm phấn trang hồng với ai?
Biếng trang điểm lòng người phiền não,
Xót nỗi chàng ngoài cõi Giang Băng.
Khác gì ả Chức chị Hằng,
Bến Ngân sùi sụt cung trăng chốc mòng.
Sầu ôm nặng, ai chồng làm gối,
Muộn chứa đầy, ai thổi làm cơm.
Mượn hoa, mượn rượu giải buồn,
Sầu làm rượu nhạt, muộn dồn hoa ôi.
Gõ sênh ngọc mấy hồi không tiếng.
Ôm đàn tranh, mấy phím rời tay;
Xót người hành dịch bấy nay,
Dặm xa mong mỏi, hết đầy lại vơi.
Ca quyên ghẹo làm rơi nước mắt,
Trống tiều khua như rứt buồng gan.
Võ vàng đổi khác dung nhan,
Khuê ly mới biết tân toan dường này.
Nếm chua cay, tấm lòng mới tỏ.
Mùi cay này há có vì ai?
Vì chàng, lệ thiếp nhỏ đôi,
Vì chàng, thân thiếp lẻ loi một bề.
Thân thiếp chẳng gần kề dưới trướng.
Lệ thiếp nào chút vướng bên khăn,
Vui còn hồn mộng được gần,
Ðêm đêm thường đến Giang tân tìm người
Tìm chàng nơi Dương Đài lối cũ.
Gặp chàng nơi Tương Phố bến xưa:
Sum vầy mấy lúc tình cờ,
Chẳng qua trên gối một giờ mộng xuân.
Giận thiếp thân lại không bằng mộng
Thì gần chàng bến Lũng thành Quan.
Khi mơ, những tiếc khi tàn,
Tình trong giấc mộng muôn vàn cũng không!
Vui có một tấm lòng chẳng dứt,
Vốn theo chàng giờ khắc nào nguôi!
Lòng theo nhưng chửa thấy người,
Lên cao mấy lúc trông vời bánh xe.
Trông bến nam, bãi chia mặt nước,
Cỏ biếc sum, dâu lướt mầu xanh.
Xóm làng gần nửa lênh chênh,
Chim còn bãi cát những tình chiều hôm.
Trông đường bắc, từng chòm quán khách,
Mây biếc cây núi ngất trời xanh;
Nửa lúa thêm nửa hoang thành,
Mưa phun mặt nước địch quanh ốc lầu.
Non đông thấy lá hầu chất đống.
Trĩ xập xòe mai cũng bẻ bai,
Khói mù nghi ngút ngàn khơi,
Con chim bạt gió lạc loài kêu thương.
Lũng Tây thấy nước dường uốn khúc,
Nhạn cánh không, sóng giục thuyền câu:
Ngàn thông chen chúc cỏ lau,
Cách thuyền nào thấy người đâu đi về.
Trông tư bề chân trời mặt đất;
Lên, xuống lầu thấm thoát đòi phen;
Lớp mây kĩ mắt ngại nhìn,
Đâu cõi chinh chiến đâu miền Ngọc quan?
Gậy rút đất dễ khôn học chước,
Khăn gieo cầu nào được thấy tiên,
Lòng này hóa đá cũng nên,
E không lệ ngọc mà lên trông lầu.
Lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,
Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.
Chẳng hay muôn dặm ruổi rong,
Lòng chàng có cũng như lòng thiếp chăng?
Lòng chàng ví cũng bằng như thế,
Lòng thiếp đâu dám nghĩ gần xa;
Hướng dương lòng thiếp dường hoa,
Lòng chàng lẩn thẩn e tà bóng dương.
Bóng dương để hoa vàng chẳng đoái,
Hoa để vàng cũng tại bóng dương;
Hoa vàng hoa rụng quanh tường,
Trải xem hoa rụng đêm sương mấy lần?
Chồi lan nở trước sân đã hái,
Ngọn tần kia bên bãi đưa hương.
Sửa xiêm dạo bước tiền đường,
Ngửa trông xem vẻ thiên chương thẫn thờ.
Hết Câu 209–312
Đây là phần 3/4 của Chinh phụ ngâm. Chinh phụ ngâm là tác phẩm thơ của Đặng Trần Côn (khoảng 1710–1745), bản dịch tiếng Việt của Đoàn Thị Điểm (1705–1748; có ý kiến cho là Phan Huy Ích, 1751–1822).
Chuyện đến đâu rồi?
Chinh phụ ngâm kể về người vợ trẻ tiễn chồng ra trận theo lệnh vua. Chàng là trang hào kiệt bỏ bút nghiên theo đao cung, lên đường qua cầu Vị trong tiếng trống và tiếng roi, còn nàng đứng nhìn theo bóng cờ với lòng dằng dặc nhớ thương. Nàng nhớ chàng nơi chiến trận, than thân cách trở và lời hẹn về nay đã lỡ nhiều lần, tin tức thưa dần. Một mình nàng phụng dưỡng mẹ già, dạy con thơ, gửi kỷ vật mong chàng thấu lòng, rồi ngày ngày ngồi dựa song cửa trông ngóng, uống rượu, ôm đàn cho khuây nhưng lệ vẫn rơi, thân gầy đi. Cuối cùng nàng lên lầu trông về phương xa và tự hỏi chàng có nhớ mình như mình nhớ chàng không.
Tác giả và dịch giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Chinh phụ ngâm (Đoàn Thị Điểm dịch).