Phần 1

Gần bước tháng tư, hơi xuân còn đầm ấm, trên núi mai tàn rơi lác đác, dưới hồ sen đương lố xố đơm bông. Thuở ấy vừa tiết tháng ba, chánh là ngày cúng vía Bà nơi trên núi Điện. Lúc bấy giờ, khắp trong lục tĩnh, xiết bao kẻ tới người lui, nườm nượp xe xe ngựa ngựa.

Thật là: Dập diều tài-tử giai-nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

Nhưng, cũng có người vì lòng thành đến đó mà dâng hương, cũng có kẻ bỡi du-lịch nên tìm đường khiển hứng.

Đang buổi trời mai, vầng đông ánh rạng; lố xố đòi ngàn sương điểm cỏ, lơ thơ mấy cụm gió đùa cây. Kìa một con đường ngay thẳng rẳng, hai bên hoa thảo thanh u, chính giữa đường những khách đi dâng hương, đua nhau kẻ trước người sau, nào là ngựa, nào là xe, rất nên náo nhiệt; còn những khách đi chơi, thì cứ huởn huởn dò lần, tán bộ nhàn hành, rảo bước thung dung, để nhắm xem phong-cảnh. Trong đám nầy lại có một người trai-tơ, tuổi vừa quá hai mươi, khăn áo trang hoàng, và đi và nhắm nhía hai bên, dường như đã say mê san thủy. Còn đương thơ thẩn, mảng xem nước bích non xanh, thoạt đâu nghe phía sau lưng, có tiếng chuông reo thúc leng-keng, lại có tiếng người la lớn tiếp theo: « Ê ếp! » Người trai ấy giựt mình liền nhảy trái qua một bên lề đường mà tránh; bề trong chàng tuy có ý bất bình, mà bề ngoài chàng cũng cứ giữ nét khoan hòa, bèn day lại xem coi, thấy một cái xe mui, thắng một cặp ngựa kim, ở đàng sau chạy tới, trong xe có một người đờn-bà ngồi giữa, độ chừng lối năm mươi ngoài tuổi, mình mặc áo nhung đen, tay đeo cà-rá có nhận hột xoàn, nét mặt tươi cười, trông ra rất có vẽ phong-lưu đài-các. Hai bên lại có hai cô thiếu-nữ, ăn mặc cũng đàng hoàng, trạt chừng 17, 18 xuân-thu, diện-mạo phương phi, dung-nghi tề chỉnh. Xe vừa đi trờ tới, người đờn-bà trên xe liền ngó người trai-tơ ấy mà gặt đầu, chúm-chím miệng cười, tỏ lòng khiêm nhượng, dường như muốn nói lời chi, ngặt vì xe chạy thoát qua mau, nên chưa kịp nói.

Khi xe qua khỏi rồi, chàng-ta và đi và suy nghĩ một mình rằng: « Thật nghĩ mà tức cười cho cái buổi ưu thắng liệt bại nầy, hễ mạnh hiếp yếu, lớn hiếp nhỏ, giàu hiếp khó, sang hiếp hèn; cho nên xe lửa thì hiếp xe-hơi, còn xe-hơi thì hiếp xe mui và xe kiến, mà rồi xe kiến với xe mui lại lấn lướt người đi bộ; ấy là lẽ tự nhiên, đâu đâu cũng vậy; ối thôi, ta cũng chăng hơi đâu mà phiền trách cái thói dối-giả trong buổi huỳnh-kim thế-giái nầy mà làm chi cho mệt. » Và đi và nghĩ mà cười thầm một mình, rồi cũng cứ việc rảo bước thung dung, đi lần lên trên Điện. Vừa bước đến nơi thì thấy một tòa Cổ-tự, điện vỏ nguy nga, chung quanh thảo mộc diềm-dà, tòng cúc sum sê, rất nên u nhã; phía trước có một tòa Đại-điện, phía sau lại có hai tòa nhà thính cất hai bên đối diện với nhau, rộng lớn thinh thinh, rất có vẽ oai nghiêm tráng lệ. Gần bên đó là Điện thờ Bà, ngày đêm hương đốt đèn chọng huy hoàng sáng lạng. Còn những thiện-nam tín-nữ, kẻ ra người vào, thật không biết số nào mà đếm cho xiết được; trong chùa tăng chúng cũng đông, chuông trống rình-rang, kẻ đốt hương người lạy phật.

Chàng-ta, vừa mới bước vào, xảy nghe có tiếng nói nhỏ nhỏ mà giọng rất thanh thao rằng: « Kìa má, thầy hồi nảy cũng lên tới rồi kia kìa má! » Chàng-ta nghe nói, bèn ngước mặt ngó lên, xem rõ lại té ra là ba người ở trên cái xe mui mà làm cho mình giựt-mình khi nảy. Còn đương ngơ ngẩn chưa biết là ai, bỗng thấy người đờn-bà ấy đứng dậy thi lễ và nói rằng: « Tôi xin lỗi cùng thầy, vì khi nảy xe đang chạy giữa đường, mà đường thì chật, xe thì đông, bỡi sợ việc rủi ro, lại thêm trong lúc bất cập mà thằng đánh xe của tôi nó cũng vô lễ, đã rung chuông mà lại còn la cho rộn, làm cho thầy giựt mình giựt mẩy; vậy mà trong lúc ấy tôi thấy thầy cũng hòa nhan duyệt sắc, chẳng tỏ ý giận hờn, thì tôi biết thầy là người có học, cho nên tuổi tuy còn nhỏ, mà có độ lượng khoan hồng, biết dung nhơn dung vật, hữu trưởng-giả chi phong, tôi hết lòng kính phục; thật tự nảy đến giờ, tôi lấy làm ái ngại chẳng cùng, lúc ấy tôi cũng muốn xin lỗi với thầy, ngặt vì xe đang trờn chạy qua mau, nên tôi không kịp nói; vậy xin thầy hoang hỉ thứ cho. Nhưng tôi chẳng rõ thầy năm nay xuân-thu được mấy, quí-tánh, đại-danh, làm việc sở nào, quê-quán tại đây, hay là ở đâu tới đây mà ngoạn cảnh? » Chàng-ta thấy người đờn-bà ấy diện-mạo đoan trang, cử chỉ ôn tồn, thì biết là người sang trọng, lại thêm nói năng phong-nhã rất có lễ-nghi, nên cũng chắp tay và xá và nói rằng: « Bẩm bà, ấy chẳng qua là việc nhỏ mọn tầm thường, gẩm chăng đáng chi, song đó cũng là tại chú đánh xe, chớ chẳng phải lỗi ấy xuất tự nơi bà, xin bà chớ để ý làm chi mà lao phiền quí-thể. Còn cháu đây tiện-danh là Hoàng-hữu-Chí, tuổi mới 22, quê quán ở Long-hồ, học-sanh trường Sư-phạm Saigon, mới thi lãnh Bằng-tất-nghiệp và đổi lại dạy tại trường tĩnh Tây-ninh đây, vừa được mấy tháng nay, nhơn lúc rảnh rang, nên mới lên đây, trước ngoạn cảnh, sau coi cúng vía. Vậy cháu cũng xin vô lễ mà hỏi thăm bà, chẳng hay bà là người bực chi, quí-ngụ tại đây, hay là ở trong lục-châu đến cúng vía Bà, còn hai cô nầy có phải là lịnh-ái của bà, hoặc em cháu chi, hay cũng người quen mà đồng đi cúng phật; dám xin bà phân hết cho tận tường, kẻo trong lúc xưng hô, tôi e không biết mà lỗi lầm, ắt mang câu vô lễ. » Người đờn-bà ấy mỉn cười, rồi nói rằng: « Tôi không nói dấu chi thầy, tôi đây vốn là một người sương-phụ, cha bầy trẻ tôi xưa làm quan Tri-phủ, cũng ngồi tại quận nầy, mà ổng đã mất lộc hơn ba năm rồi, có để sự-nghiệp lại cho tôi chút đỉnh, cũng vừa đủ xây xài, khỏi lo bề hụt hạt; lại cũng may nhờ có hai đứa con gái của tôi đây, mẹ con hủ hỉ sớm trưa, cũng giải khuây được trong cơn phiền muộn. » Hoàng-hữu-Chí nghe nói dứt lời, liền day lại chắp tay, xá hai cô con của bà Phủ và nói rằng: « Nói vậy hai cô đây đều là lịnh-ái của bà, vậy mà tôi không biết, xin hai cô miễn chấp cho tôi. » Hai nàng ấy vội vàng đứng dậy liểm-dung đáp lễ lại, rồi cũng cứ ngồi lặng ym như cũ. Bà phủ lại nói rằng: « Thật tôi thấy thầy tuổi tuy còn nhỏ mà ăn nói khôn ngoan, nên tôi cũng phục, tưởng là thầy ở đâu xa, chớ thầy cũng ở dạy tại đây, thì tôi mời thầy bữa nào có rảnh, xin đến nhà tôi một phen mà chơi cho biết. » Hoàng-hữu-Chí nói: « Bà đã có lòng chiếu cố, cháu đâu dám chẳng vâng lời, vậy xin bà để xế mai, cháu sẽ tìm đến hầu bà mà tạ ơn huệ-cố. »

Chiều bữa ấy việc cúng Phật xong rồi, bà Phủ bèn giã từ tăng chúng với mấy mụ ni-cô, rồi dắc 2 cô con xuống núi ra về; bà lại đinh ninh dặng dò Hoàng-hữu-Chí, sao sao xế mai cũng đến nhà bà mà chơi, chớ có quên lời hứa mà để cho bà nhọc lòng trông đợi. Hoàng-hữu-Chí dạ dạ vâng lời, lại theo đưa bà ra khỏi cữa chùa một đổi xa xa, rồi mới cúi đầu chắp tay từ giã bà mà trở lại.

Nguyên bà nầy là vợ của quan Phủ Nguyễn-hữu-Ân, tánh-tình vui vẽ, thái-độ ôn hòa, nhà tuy sang mà không kiêu không lẫn; thấy người giàu cũng chẳng nịnh chẳng dua; nói tóm một lời, bà thật là người đạo đức hoàn toàn, ít ai sánh kịp. Tiếc có một đều là bà làm bạn với quan Phủ gần trót ba mươi năm mà chẳng có con. Từ ngày quan Phủ mất lộc, bỏ bà lại một mình, vắng trước quạnh sau, rất nên thê thãm, phàm những việc nhà bất câu lớn nhỏ, ngoài ruộng trong vườn, tôi trai tớ gái, bà liệu lý có một mình, hôm sớm cần cù, lấy làm cực nhọc. Cách chừng 4, 5 tháng trước, bà cũng nhơn đi dâng hương trên núi Điện, thời may bà gặp được hai cô thiếu-nữ, cũng dắc nhau lên Điện mà dâng hương; bà hỏi thăm ra mới biết là con nhà danh-gia lạc nạn, nên bà động mối thương-tâm, mới đem hết cả hai về nuôi làm con, từ ấy đến sau, mới có người thay thế cho bà mà xem sóc việc nhà và sớm trưa hủ hỉ với bà, thì bà cũng được thỏa lòng nơi ngày vãn-cảnh.

Còn hai cô thiếu-nữ nầy là chị em ruột với nhau, chị tên Thu-Cúc, em gọi Xuân-Lan, chị mới mười tám tuổi xuân, còn em thì mười bảy; vẫn là con gái của một quan huyện kia, mỹ-danh là Nguyễn-trọng-Luân. Quan huyện ấy là người đã thanh-liêm mà cang-trực, giàu chẳng bợ, khó chăng khi; những kẻ nghèo hèn mà trong sạch thì ông thương, còn những kẻ giàu-có mà tham-lam thì ông lại ghét; ông tuy tà người trong phái tân-học, làm quan giúp việc cho Đại-pháp chánh-phủ thì mặc dầu, mà bên Nho-học ông cũng siêu quần bạt tụy; phàm một câu văn, một bài phú, hoặc một quyển sách chi của ông viết ra thì ai nấy cũng hoang nghinh, thảy đều vui xem vui đọc; ông thật là người tài-tình lội-lạc, lại quảng giao thiên hạ anh-hùng, tánh-tình hào hiệp, ngôn ngữ như lưu; lại còn một đều nầy nữa mới kỳ: Là hơi ông hát cũng thanh, mà giọng ông ngâm thi cũng nhã. Bỡi đó cho nên, những hàng thức-giả trong lục-châu, đều gọi ông là Nam-kỳ tài-tử. Còn bà Huyện cũng là người dòng-dỏi thơ-hương, bà làm bạn với ông từ ngày bà tuổi mới hai mươi, sanh con cái cũng nhiều; nhưng mà còn nuôi được có 1 trai và 4 gái. Hai cô gái lớn đã có đôi bạn gia-thất tư riêng, duy còn có 2 cô gái nhỏ là Thu-Cúc với Xuân-Lan và một cậu trai út tên là Nguyễn-trọng-Liêm, mới 14, 15 tuổi, vẫn còn đi học.

Bà Huyện nầy là người hiền đức, nhơn thấy ông hay trọng đức thanh-liêm, nên bà hay lo về ngày tương lai, sợ e lúc tuổi già, không có chi dành để, bỡi đó cho nên bà hay tiện tặng, nhựt dạ cần-cù, cứ mỗi tháng nhín bớt trong số bạc lương của ông, chắt lót từ đồng, đem gởi vào kho Tiết-kiệm (Caisse d'Epargne).

Đến khi ông tuổi được năm mươi, ông mới bàn tính với bà, rồi gởi đơn xin giải chức hồi hưu mà dưỡng lão. Khi được giấy hưu rồi thì ông liền dắc hết gia-quyến về cất nhà cữa tại Vĩnh-an-hà là nơi hương-quán của ông. Lúc nầy ông đã được rảnh rang, cho nên ngày chí tối ông chỉ cứ lo trồng cây lập vườn mà chơi cho tiêu khiển; chung quanh nhà thì ông trồng ròng những kỳ-hoa dị-thảo, thơm nực trong ngoài, nơi ao cá, chỗ chậu sen; dòm vào cái cảnh gia-đình của ông thật rất thanh u nhàn nhã

Vã lại ông là một người vẫn có danh thanh bạch đã lâu, cho nên từ ngày ông về ở đó đến sau, tự quan chí dân bất luận là ai, cũng đều kính phục. Lúc bây giờ, ối thôi, biết bao những thân bằng cố hữu, người xu phụ kẻ phùng nghinh, nói sao xiết những nhơn-tình thế-thái.

Ông lại nghĩ rằng: Phàm sanh ra làm người mà muốn cho tư-cách hoàn toàn, để đối đãi cùng xã-hội nơi buổi giao-thời nầy, thì bất luận là trai hay gái, đều phải nhờ học-thuật mà bồi bổ lấy tinh-thần; bỡi đó cho nên trọn năm người con của ông, bốn gái một trai, thảy đều có học. Nhưng lúc ông còn làm quan, nhơn vì công sự buộc ràng, nên ông chỉ lo dạy sơ hai cô con-gái lớn của ông vừa biết đọc biết viết và biết chút đỉnh trong đạo làm người vậy thôi. Duy có ba người con nhỏ sau đây, là hai cô: Thu-Cúc với Xuân-Lan và cậu Nguyễn-trọng-Liêm là con trai út. Cậu trai thì ông cho học tại trường tĩnh An-giang, còn hai cô gái thì ông lại cho vào Nữ-học-đường Saigon mà học nữ-công và trau giồi kinh sử. Vã lại lúc nầy ông đã được về hưu, nên ông có rộng ngày giờ, lúc ông buồn thì ông chỉ cứ ngâm thi vịnh phú mà chơi, khi ông rảnh thì ông lại viết những sách dạy về luân-lý để bảo tồn phong-hóa. Mỗi khi bải trường mà ba người con của ông nghỉ học về nhà, thì ông lại đem sách nho ra mà dạy; ông dạy làm thi làm phú, dạy phong-hóa lễ-nghi, dạy từ lời ăn tiếng nói, dạy cho tới cách cư xử và giao thiệp với đời.

Có lúc trời trong trăng tỏ, gió mát đêm thanh, ông lại khiến đứa ở dọn bàn nhắc ghế đem ra nơi vườn hoa và pha trà ngon cho ông uống, rồi ông mới kêu hết cả ba người con ông ra, dạy kéo ghế ngồi kề bên cạnh. Ông và xơi trà và giảng luận việc đời cho ba người con của ông nghe, một chặp lâu ông lại chíp miệng mà than rằng: « Mấy con ôi! Tưởng khi mấy con đã biết ý cha, vã cha là một người đa sầu đa cảm, nay cha đã già yếu, tuổi quá tri-thiên rồi, ngồi mà nghĩ lại, bình-sanh cha, chỉ có một cái bịnh lo đời, năm chí cuối, những mãng âu sầu mà chẳng có giờ khắc nào cho thơ cái trí được. » Xuân-Lan nghe cha than như vậy, bèn rỉ-rén thưa rằng: « Con vẫn biết ý cha lắm, bỡi cha thấy cái trình-độ của quốc-dân ta hiện nay mà vẫn còn thấp hèn như thế, nên cha lo buồn cũng phải lắm chút; nhưng con nghĩ lại cái sự lo ấy là phận sự của mấy cậu học-sanh, và mấy nhà tư-bổn, chớ chẳng phải một mình cha mà lo cho xiết được; huống chi tuổi cha nay cũng đã lớn rồi, nếu cha cứ chác lấy cái sự lo ấy mãi trong mình, thì con e cho cha một ngày kia rủi phải sanh bịnh hoạn, vạn nhứt mà cha có bề nào thì còn ai mà dạy dỗ mấy chị em con; vậy nên con khuyên cha một lời, xin hảy bảo trọng lấy thân già, sớm khuya hủ hỉ với chị em con mà an hưởng cái hạnh-phước nơi chốn gia-đình, ấy là một đều cần nhứt của con ước nguyện đó cha. » Thu-Cúc nghe Xuân-Lan nói dứt lời, thì phản đối lại rằng: « Nếu em tưởng vậy thì em chẳng phải là con tri-kỷ của cha mình rồi đó; bỡi trí em còn thấp lắm; vậy để chị nói lại cho em nghe: Phàm những kẻ vì sự lo rầu mà sanh ra bịnh hoạn đó là những bọn lục lục dung thường, phàm-phu tục-tử, giá áo túi cơm kìa! Bỡi những hạng người ấy nhứt sanh chỉ cầu có một sự no cật ấm thân mà gọi là ăn sung mặc sướng đó thôi, thoản như có rủi mà phải bước truân-chiên, gặp cơn nguy-biến, thì ắt nó áo não âu sầu, bù-xa bù-xít, vào thở ra than, băn hăn bó hó, chắt lưỡi hít-hà, có khi rầu quá mà phát điên, thậm chí phải thác oan mới là uổng mạng. Chớ như cha của chị em mình đây là người học-thức hoàn toàn, chí khí cao thượng; cho nên, dầu cho có gặp cơn nước lửa, phải bước điên nguy thế nào đi nữa, thì tấm lòng thiết-thạch, cái chí liệc-hoanh của cha mình đây cũng trơ như đá vững như trồng, ai xô cho động, ai rúng cho xiêu; chớ có phải như bọn thô-bỉ kia đâu mà bi lụy hằng ngày, cho đến đổi phải sanh ra bịnh hoạn lận hay sao mà em hòng lo như thế; vậy chẳng là tầm thường lắm chăng em? Nhưng mỗi khi cha mình có buồn, thì chị em mình cứ lựa những thứ nhựt-báo nào cho có giá-trị, hoặc những sách triết-học nào cho kỳ thật là hay, hoặc những Tiểu-Thuyết nào câu văn cho tao-nhã, lý-tưởng cho thanh-cao, rồi đem ra mà đọc; hoặc ngâm ít luật thi, hoặc vịnh vài câu phú cho cha mình nghe chơi cho tiêu khiển; vì nhựt-báo với sách là một món thuốc bổ ngươn, thật rỏ ràng là một phương tỉnh não đề thần của nhà triết-học đó đa em à! Song mà chị em ta cũng còn phải đề phòng, chớ đừng có vô ý rồi nhè những nhựt-báo nói xằng, và những sách lả-lơi vô vị mà đọc thì ắt là làm cho cha mình phải long óc nhức đầu, mà rồi chị em mình đây cũng bắt xây xẩm mặt mày mà phải khốn đa em; nên phải cẩn thận cho lắm mới được...... » Thu-Cúc nói chưa dứt lời, quan huyện liền vỗ vai con, mỉn cười mà nói rằng: « Thật con biết rõ cái tâm-bịnh của cha, vậy mới phải là con tri-kỷ của cha đó. » Thu-Cúc lại ngó Xuân-Lan mà nói tiếp thêm rằng: « Nầy em, chí như những lời của em đã thưa với cha khi nảy rằng cái nghĩa-vụ lo đời đó là phận-sự của mấy cậu học-sanh và của mấy nhà tư-bổn; húy chao ôi! Học-sanh làm chi, mà tư-bổn lại làm chi? Em cũng thường hay xem nhựt-báo, vậy chớ trong khoản chín mười năm mà trở lại đây, em có nghe cái ảnh-hướng gì không? Em có thấy những ông học-sanh nào đi du-học ở ngoại-quốc đến khi tất nghiệp mà trở về xứ rồi, họ có quan tâm gì với xã-hội ta chưa? Tưởng khi chưa. Một chưa, hai chưa, ba bốn cũng chưa. Cái tôn-chỉ của các ổng đi du-học đó đều lấy có một sự vinh thân phì gia mà làm chủ-nghĩa, cho nên mỗi khi lo học cho thành tài rồi thì cứ bấu theo đua chen nhau trong đám quan-trường, chỉ mong có một sự vinh hiển xắp thời rồi trở lại khinh khi khoát nạt đồng-bào mình mà chơi cho thỏa-thích; chớ em đã có thấy ông nào mà lưu-tâm đến sự mở mang cho em cháu mấy ổng hay chưa? Tưởng khi cũng chưa nữa mà! Lại còn thãm một nỗi cho bọn nữ-lưu Nam-Việt ta, có nhiều cô lại thầm trông trộm ước, mong sao cho được làm bà Tú, bà Cữ, mà nhờ chút thơm lây của mấy ông du-học ngoại-quốc mới về. Nhưng, em hãy thử ngẫm lại mà coi; nào, có mấy ai mà đạt được cái hi-vọng ấy bao giờ! Chỉ có một hai cô có phước mà sanh nhằm nhà cự-phú, lúa ruộng mỗi năm cho được một hai trăm ngàn giạ kìa, thì mới còn mong đem cái sự-nghiệp ấy mà đổi lấy cái chức bà Tú, bà Cử, để chưng chơi cho rựt rở với đời; chớ kỳ dư phần nhiều, hễ ông nào học vừa được thành tài, thì đờn-bà ngoại-quốc họ hướt hết đã bao giờ rồi, chớ có còn đâu mà bỏ sót lại cho tới tay con gái nhà Nam-Việt! Cho nên cái sự du-học của mấy ổng đó bất quá hồ-là họ mưu lấy có hai chữ Vị Kỷ đó mà thôi, chớ cũng chưa thấy bổ ích gì cho xã-hội ta đâu mà em hòng trông mong đến mấy ổng. Còn nói qua tới mấy nhà tư-bổn, thì chị lại càng chua xót não nồng. Em nghĩ đó em coi, những nhà tư-bổn của người ta bên Âu bên Mỷ, thường hay xuất bạc muôn ra mà làm đều công-ích, bồi đấp cho quê-hương; kẻ lo lập nhà bảo-cô để nuôi những trẻ mồ-côi, cho khỏi cơ-hàng tất-tưởi, người lại lập học-đường, để giúp con nhà nghèo khổ, chuyên lo ung đúc nhân tài; hoặc cất nhà bảo-sảng bảo-sanh, mà bảo tồn nhân-loại; hoặc hiệp lực với nhau, lo lập Ấu-trỉ-viên để nung nấu cái khí hạo-nhiên cho trẻ bé. Chớ như những nhà tư-bổn trong nước ta đây thì phần đông lại đấm mê bên đường danh-lợi, năm chí cuối, cứ lo thâu liểm, rồi để dành tiền bạc sẵn đó cho nhiều mà chờ cho có cái cơ-hội nào, hoặc tranh cử Hội-đồng, hoặc dành ra Cai Phó tổng, dám liều tốn cho đến năm bảy chục ngàn, có nhiều khi phải đến tán sản khuynh gia mà chưa biết ngán. Còn nói qua việc công-ích đáng làm, thì một đồng su cũng không ai muốn lọi; thế thì em còn tính tới mấy nhà tư-bổn mà làm gì? Hóa cho nên những đấng ưu thế mẩn thời, ai là người không áo não âu sầu, chớ chẳng phải có một mình cha mình đây mà thôi đâu em. » Quan Huyện nghe Thu-Cúc nói dứt lời thì gặt đầu và chúm-chím miệng cười mà nói rằng: « Thật con đã động tất nhơn-tình thế-cố rồi đó. Vã con là gái mà con lại có cái kiến-thức cao thượng như vầy, thì cái sự mừng của cha còn có chi bằng; nhưng cái lời của em con nó khuyên cha khi nảy đó cũng không phải sái, vì nó còn nhỏ hơn con, nên nó chỉ biết có một đều hiếu kính với mẹ cha, chớ nó chưa biết được cái nghĩa-vụ trung thành cùng xã-hội. Thôi, trời cũng đã khuya rồi, mấy con hảy kêu trẻ dẹp đồ, rồi đi nghỉ ngơi cho sớm. »

Thật cái cảnh gia-đình của quan huyện lúc nầy, gồm đủ cả phụ từ tử hiếu, phu xướng thê tùy; cái hạnh-phước nầy còn có chi bằng.

Nào dè đâu Tạo-vật khéo khuấy chơi, anh-hùng đa ma chiết; đất bằng sóng dậy, cảnh chẳng chìu người. Nhà ông đương buổi yên vui, trên êm dưới thuận, thoạt đâu ông vùng tiếp được một tin điển-báo ở Saigon, đánh lại cho ông hay rằng: Ông Phan-mẩn-Đạt là bạn-hữu của ông mà ông đã có đứng ký tên bảo lãnh một số nợ của một hảng buôn kia hơn 5 ngàn đồng, mà nay Phan-công rủi bị hỏa-tai, một nhà buôn bán rất to, vì có một ngọn lửa vô tình, mà trong giây phút phải hóa ra một đống tro tàn rất nên thê thãm, vì vậy mà mối nợ của hảng không phương trả nổi. Bỡi đó cho nên nay hảng ấy nó buộc ông về sự bảo lãnh liên cang, phải trả cho đủ số, bằng chẳng thì nó sẽ kiện xin giam thâu, hoặc xin biến mải gia-sản của ông mà trừ cho đủ nợ.

Lúc bấy giờ, cả nhà ông đều bấn loạn, dường như sét đánh thình lình; đã vậy mà năm ấy ruộng của ông đã chìm, rẩy của ông lại thất; thật rõ ràng là phước bất trùng lai, họa vô đơn chí: thế thì ông còn có tài nào mà giải cái nguy nầy cho khỏi được.

Đương lúc nầy Nguyễn-trọng-Liêm tuổi còn thơ ấu, chưa biết việc chi, còn bà huyện và hai cô Thu-Cúc với Xuân-Lan, hôm sớm âu sầu, lấy làm bối rối. Duy có ông, bề trong tuy cũng lo buồn, mà bề ngoài ông vẫn cứ an nhiên, chẳng ai rõ được.

Đây ký-giả xin nhắc qua việc ông Phan-mẩn-Đạt, nguyên ông nầy vẫn cũng là một người chí khí cao thượng, trước kia ông cũng có làm quan, tức là bạn đồng-liêu mà cũng là bạn đồng-tâm đồng-chí với quan Huyện. Ông nhơn nghĩ vì mình sanh nhằm trong buổi huỳnh-kim thế-giái nầy là buổi ưu thắng liệt bại, mạnh vì gạo bạo vì tiền; những kẻ có chí lo đời, ai ai cũng đều đem hết sự-nghiệp ra mà tranh ưu tranh liệt, vùng vẩy nơi đám thương-trường, hầu có bảo tồn quyền-lợi cho quê-hương; kiếm tư-bổn cho nhiều, để hiệp nhau mà lập Ấu-trỉ-viên, hoặc lập thêm Cao-đẳng học-đường mà ung đúc nhân-tài; dầu được dầu hư cũng chẳng nệ, quyết hiến thân cho xã-hội, chỉ cầu cho đạt được cái mục-đích của mình mà làm gương cho đám thanh-niên đó thôi; phần thì ông cũng đã chán ngán bên phía hoạn-đồ, nên ông mới xin từ chức, để ra ngoài lo dựng nghiệp dinh thương. Trong khoản 5, 6 năm trường mà cái cuộc buôn của ông đã lần lần khoán trương ra rất nên to tác. Ông lại có một người con trai, tên là Phan-quấc-Chấn thiên-,tư dỉnh ngộ, học thức thông minh, tuổi vừa 21, hiện đương học tại Thương-nghiệp cao-đẳng học-đường ở bên nước Pháp, còn một năm nữa mới thi lãnh bằng Tất-nghiệp. Trước kia ông vẫn có hứa kết sui gia với quan Huyện, định đến ngày nào con ông học tất-nghiệp mà về, thì chừng ấy ông sẽ cưới Thu-Cúc cho Phan-quấc-Chấn.

Chẳng dè vận thời điên đảo, phú quí tợ phù vân, một nhà buôn vốn liếng uớc năm ba muôn, mà trong giây phút đã hóa ra tro bụi.

(Viết tới đây ký-giã cũng ngùi ngùi, để bút xuống chíp miệng mà than dài, rồi lại ngước mặt lên mà hỏi thử Hóa-công, vậy chớ cái chưởng-loại nầy, hãy còn mắc cái tội tình gì mà ông nỡ để cho những kẻ có chí lo đời, thường bị việc rủi ro, cho đến nỗi phải bại gia tán sản? Còn những kẻ khán-tài-nô cùng những phường công-tử-bột; thì ông lại để cho chúng nó ăn sung mặc sướng, xuống ngựa lên xe, kẻ thì đem bạc vạn mà chôn theo mấy đám trăng hoa, người thì vật bạc muôn mà đi thua cờ bạc; điếm đàng đỉ thỏa, vô ác bất vi; những trang ưu thế mẩn thì, có đáng buồn cho chưởng-tộc ta chăng?)

Ngày giờ thấm thoát, lật bật chẳng bao lâu mà đã thấy Trưởng-Tòa đến biên tịch nhà cữa quan huyện Nguyễn-trọng-Luân, không chừa một món. Bà huyện thấy vậy thì than trách ông rằng: « Ngày nọ tôi có cãng ông mà ông không nghe, nay đã đến cớ đổi như vầy, sự-nghiệp ắt tiêu-điều, còn chi là danh-giá. » Ông nghe bà than phiền như vậy, thật ông cũng động lòng, song ông cũng lấy lời chánh đáng mà an ủi bà rằng: « Bà nó ôi! Phàm làm người đứng trong võ-trụ, hễ mặc lốt người thì phải biết thương người; rất đổi là người cùng một da, dân cùng một nước mà còn phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau thay! Huống chi là bạn đồng-tâm đồng-chí. Vã Phan-công là trung-hậu quân-tử, có chí khí trượng-phu; trước kia người vẫn có ân nghĩa với nhà ta, lại thêm tôi với người đã cùng nhau hưa kết sui-gia; đến nay mà người có gặp việc rủi ro, ấy cũng bỡi vận thời điên đảo, cơ biến nơi trời, chớ chẳng phải tại người rượu trà cờ bạc, tửu điếm trà đình chi mà sanh ra việc điên nguy như vậy. Ôi thôi! Hễ là đứng trượng-phu xử thế, thì ta phải vì nghĩa mà chung lo chung chịu với anh em, dầu cho có tán sản khuynh gia cũng cam tâm mà chịu, cho tròn cái nghĩa-vụ, chớ biết sao bây giờ! Thôi, vợ chồng ta cũng nên thuận theo lẽ trời mà tùy ngộ nhi an, bà nó chớ có phàn nàn mà phải võ vàng gầy ốm. Tuy vậy chớ chúng ta cũng hổ mà nghe cái tiếng trống vô tình, họ sẽ đem tới mà gióng ình ình nơi trước cữa; vậy thì bà nó hãy xuống Sa-đéc hoặc vô Bặc-liêu mà tránh đỡ một ít lâu, chừng nào qua hồi dông gió, rồi sẽ trở về cũng chẳng muộn chi. » Bà huyện cũng thuận theo ý chồng, liền thu xếp việc nhà rồi từ giã chồng con mà đi lánh nạn.

Bà đi rồi vừa được ít ngày, một đêm kia ông vì buồn bực, thốn thức bồi hồi, nằm không yên giấc, nhơn nghĩ lại từ ngày ông mới để bước vào đường đời cho tới nay, đã hơn ba mươi mấy năm trời, ông nếm đã đủ mùi, ngọt, bùi, cay, đắng, chua, chát, mặn, nồng; đến nay tuổi quá tri-thiên rồi mà hãy còn gặp cơn gian khổ, phải bước truân chiên, nên ông ngụ ý đặt ra một bài thi, rồi ngồi dậy bước lại thơ-phòng, lấy giấy mực viết ra như vầy:

Khuấy khỏa làm chi hỡi Hoá-công?

Ba mươi năm mấy chữa vừa lòng,

Tuổi xanh luốn chịu đều cay đắng,

Tóc bạc còn mang tiếng mặn nồng,

Thân phận đã dày cơn gió bụi:

Công danh chưa toại chí tang bồng,

Xiết bao xô đẩy người như thế:

Không lẽ mà ông khuấy tới cùng.

Ông viết rồi vừa đọc vừa ngâm một mình, chẳng dè Thu-Cúc cũng vì lo buồn mà ngủ chẳng yên, còn đương mơ màng, bỗng nghe tiếng cha ngâm thi, liền ngồi dậy lóng tai nghe rõ hết đầu đuôi, vùng sa nước mắt, bèn bước ra rĩ rén thưa rằng: « Chừ trời cũng đã khuya rồi, sao cha chưa nghỉ, còn thức làm chi cho mệt vậy cha? » Ông đáp rằng: « Cha nhơn buồn lòng, nên ngụ ý mà nghĩ ra được một bài thi, nên phải rán viết ra đây, kẻo sợ để sáng ra ngày mai rồi mà quên mất đi thì uổng lắm. » Và nói và lấy bài thi trao ra cho Thu-Cúc xem. Thu-Cúc vói tay tiếp lấy bài thi đọc đi đọc lại và suy nghĩ một hồi lâu rồi thưa rằng: « Luôn đây con cũng nghĩ được một bài, song chẳng phải là con họa vận; con lấy theo điệu liên-huờn mà nối với bài thi của cha, họa may có nhờ cái hơi phù hứng trong đấy mà về sau cha con ta có thể phục hồi cựu nghiệp lại chăng? Vậy xin để con viết ra cho cha xem, ngõ nhờ cha phủ chánh. » Nói rồi liền lấy giấy viết ra, bài thi ấy như vầy:

Tới cùng rồi ắt có ngày xong,

Người phải trời đâu nỡ phụ lòng;

Xô đẩy thế nào rồi lại đỡ,

Lấp ngăn cho mấy cũng là thông,

Lá lay trối kệ loài đen bạc,

Son sắt lòng ta cứng tợ đồng.

Thẳng rẳng đường đời xăm xúi mãi;

Còn khi may gặp hội mây rồng.

Ông xem hết bài thi rồi day lại ngó Thu-Cúc mà nói rằng: « Trọn bài thi của con làm đây cũng là khá, duy có cặp luận, con đối chưa được mấy chỉnh; nhưng đó cũng bỡi cái lòng của con, vì quá ghét những lũ vong ân bội nghĩa, phản phúc tiểu-nhân, nên nó lộ ra trong hai câu thi ấy; thôi, cũng nên để vậy, chớ chẳng cần phải tô điểm lại làm chi mà làm cho mất cái tinh-thần của con trong cơn cảm hứng. »

Lúc ấy Xuân-Lan cũng vừa thức dậy, nghe cha với chị mình còn đang luận thi, bèn vội vàng chổi dậy đi nhúm lửa lò, bỏ than quạt lửa, nấu nước pha trà rồi đem cho cha uống. Ông vừa uống trà vừa nhìn sửng hai cô con, rơi đôi giọt lụy mà nói rằng: « Hai con ôi! Cha vẫn yêu thương chị em con lắm, bấy lâu một bước cha chẳng nỡ lìa, đến nay mà vận nhà điên đảo, gặp lối hiễm nguy, cái thế nó buộc cha con ta phải tạm lìa nhau; vậy trước khi cha để bước lên đường, cha có mấy lời dặn bảo chị em con đây, chị em con phải chữ dạ ghi lòng mà giữ gìn cho tròn danh-giá; ấy là một đều cha ước mong hơn hết. Vã em con là Trọng-Liêm vẫn còn thơ ấu, khờ dại chẳng biết chi, chớ như hai chị em con đây tuổi đã trộng rồi, cũng vừa đúng cái thời-kỳ nghi-gia nghi-thất; theo lẽ thường thì lúc nầy là lúc cha mẹ phải kềm thúc giữ gìn, chớ chẳng nên rời ra trong giây phút; nhưng mà, đó là những con-gái nhà tầm-thường kia, chớ như hai chị em con là gái biết đều, nói ít hiểu nhiều, cha cũng khỏi lo cho lắm. » Nói tới đây ông liền nhìn sửng Thu-Cúc một hồi rồi ông lại lau nước mắt mà nói rằng: « Nầy con, còn một việc nầy nữa là một việc rất quan hệ về cuộc trăm năm của con mà bấy lâu cha thấy con vẫn còn thơ-ấu, mãng lo ăn học, nên cha chưa tỏ cho con hay, đến nay con cũng đã khôn lớn rồi, lại thêm cha con ta cũng gần phải lìa nhau; vậy thì cha cũng nên nói cho con rõ mà giữ gìn danh-tiết cho nhà người. Nguyên lúc con còn ăn học trong trường, cha nhơn thấy thằng Phan-quốc-Chấn là con trai của anh Phan-mẩn-Đạt, thông-minh dĩnh ngộ, hữu quốc-sĩ chi phong; lúc nó chưa đi du-học bên nước Pháp, thì nó vẫn thường theo cha nó tới lui cơm nước nơi nhà mình, tưởng khi con cũng đã thấy biết nó rồi. Bỡi vậy cho nên cha đã hứa hôn với cha nó mà định gả con cho nó. Nay tuy là rủi vì tai biến của cha nó mà liên lụy cho tới nhà mình thì mặc dầu, song ta cũng phải giữ gìn lời hứa cho trọn trước trọn sau; chớ chẳng nên học cái thói giả-man, hễ mỗi lần đi làm sui, thì cứ xách cái bàn toán ra mà tính trước, chừng thấy người lỡ bước sẫy chơn rồi ngã lòng thối chí; ấy là một đều mà bình-sanh cha vẫn ghét lắm đa con. Thôi, cha cũng chẳng cần phải nói chi cho nhiều nữa; cha chỉ xin hai chị em con phải biết rằng người đời họ thường lấy bạc tiền mà làm sự-nghiệp, còn cha con nhà mình đây thì chỉ có lấy cái thanh-danh mà làm sự-nghiệp đó thôi; ấy vậy phận hai con là gái, thì phải trọng lấy tiết trinh, làm làm sao cho trong như giá trắng như ngần; được như vậy thì chẳng những hai con đây là một cặp ngọc báu của nhà mình, mà lại cũng là một đôi gương lành của Việt-Nam Xả-hội đó đa hai con à! » Lúc bấy giờ, hai chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan, tuy đã thoát cái thường-tình nhi-nữ thì mặc dầu; song mà, vì phụ-tử tình-thâm, cho nên trong cơn tử-biệt sanh-ly, dầu cho có thiết thạch tâm trường, cũng khôn ngăn giọt lụy. Khi Xuân-Lan nghe ông nói dứt lời, liền khóc tấm-tức tấm-tưởi mà hỏi rằng: « Chẳng hay cha tính đi đâu? Trú ngụ xứ nào, xin nói cho chị em con biết, phòng sau cho tiện bề tin-tức viếng thăm. » Ông nghe lời hỏi rất chơn thành, bèn lau nước mắt vuốt ve con mà nói rằng: « Xuân-Lan con ôi! Bốn biển là nhà, cha chưa biết đâu mà định trước; cha chỉ khuyên con có một đều là phải chữ dạ cho bền mà ghi nhớ những lời của cha đã đinh ninh dặn bảo, chớ như cha đi phen nầy đây, có lâu lắm là một năm, bằng mau nữa cũng năm bảy tháng, dầu thế nào cha cũng ráng lo cho phu thê phụ tử đoàn viên; hai con hãy an lòng, để cho cha dời gót. » Xuân-Lan nghe vậy liền ôm cứng cánh tay cha, khóc nứt-nở và nói rằng: « Cha ôi! Lời cha đã ân cần dạy bảo, thì chị em con phải tạc dạ ghi xương, ngặt có một đều là mẹ con đi đã trót tuần, chưa nghe tin tức ở đâu, nay cha lại đành bỏ chị em con mà đi nữa; mà cha cũng chưa quyết định cư xử nơi nào, ôi! Thế thì, từ đây góc biển ven trời, nắng mưa thui thủi quê người biết đâu. Thoản như trong cơn mưa gió, may rủi lẽ nào, thì chị em con mới biết đâu mà thăm viếng. » Nói tới đó rồi lại khóc mùi; làm cho ông cũng phải động lòng mà rưng rưng nước mắt. Thu-Cúc cũng sụt sùi lụy ngọc, bước tới thưa rằng: « Cha ôi! Nay cha phải lìa chị em con mà đi lánh nạn, vậy thì từ đây thiên các nhứt phương, mẹ cha góc biển, con cái ven trời; từ xưa đến nay, thật con chưa hề thấy cái thãm-cảnh nào như cái thãm-cảnh của cha con ta lúc nầy. Tuy vậy, song chị em con cũng phải nhắm mắt đưa chơn, ôm lòng mà chịu, chớ biết sao bây giờ. Nhưng con chỉ có lo là lo cho cha già yếu, tuổi quá tri-thiên, nơi xứ lạ quê người, khi ương yếu biết lấy ai mà nương cậy. » Thu-Cúc nói tới đây nước mắt chan hòa, liền úp mặt trong mình cha mà khóc mùi khóc mẩn, chẳng nói chi được nữa. Lúc bấy giờ, dầu cho quan Huyện mà có cái gan bền như sắt, ruột cứng tợ đồng đi nữa, cũng phải xiêu lòng, vì con mà rưng rưng giọt lụy.

Còn đương bịnh rịnh, đồng-hồ đã gõ 3 giờ, ông liền lau nước mắt, lấy lời nghiêm chánh mà khuyên giải con rằng: « Hai con ôi! Hai con đừng bận biệu làm chi, vã người sanh trong Hoàn-võ, bi hoan ly hiệp là lẽ thường; thôi, hai con hãy an lòng, để cho cha dời gót. » Miệng ông tuy nói vậy, mà lòng ông cũng vẫn ngùi ngùi, còn hai cô con thì giọt lụy sụt sùi, ruột đau từ đoạn.

Ấy mới thật là:

Đau lòng kẻ ở người đi,

Lụy rơi thấm đá, tơ chia rã tằm.

Hết Phần 1

Đây là chương 1/7 của Lòng người nham hiểm. Lòng người nham hiểm là tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).

Chuyện đến đâu rồi?

Câu chuyện mở đầu với chàng trai trẻ Hoàng-hữu-Chí, giáo viên hiền lành, gặp bà Phủ quý phái ngày cúng vía ở núi Điện sau một lần suýt va chạm xe ngựa, và bà mời chàng đến nhà chơi. Nhà quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân thanh liêm vốn sống thanh bạch, dạy dỗ các con gái Thu-Cúc và Xuân-Lan. Nhưng vì bảo lãnh nợ cho bạn là Phan-mẩn-Đạt, gia đình bị tịch biên tài sản; vợ ông phải đi lánh nạn, còn ông dặn dò các con giữ tiết hạnh và ghi nhớ hôn ước với con trai họ Phan trước khi lên đường.

Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Lòng người nham hiểm.

Lòng người nham hiểmPhần 1
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 7 chương

  1. Phần 130 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Phần 28 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Phần 325 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Phần 413 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Phần 524 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Phần 617 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Phần 715 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)