Phần 5
Nguyên Lê-xuân-Kỳ trước đã có tư tình với một nàng kia tên là Cẩm-Lệ, nàng ấy nhân-phẩm tầm thường, không phải xấu, mà cũng không đẹp lắm. Cha mẹ nàng mất sớm, có để lại cho nàng một cái nhà ngói ba gian và đôi ba chục mẫu ruộng; vì không ai câu thúc, cho nên nàng mới được tự do, Lê-xuân-Kỳ tới tới lui lui, giờ nào cũng được.
Đêm kia, Lê-xuân-Kỳ đến thăm Cẩm-Lệ mà mặt còn hơi giận lộ ra bề ngoài. Cẩm-Lệ lấy làm lạ bèn hỏi rằng: « Một lần thầy tới đây thì mặt mày vui vẽ luôn, hôm nay trong thế thầy có bất bình với ai việc gì hay sao mà coi ý thầy còn hơi giận dữ lắm vậy? » (Ấy là Lê-xuân-Kỳ muốn lợi dụng Cẩm-Lệ cho đắc kế của mình, nên mới làm bộ giận dữ cho Cẩm-Lệ hỏi mà nói. Mà quả thật Cẩm-Lệ trúng kế, nên mới hỏi bợm-ta như vậy).
Lê-xuân-Kỳ bèn dùng dịp ấy, bày đều nói láo mà khích Cẩm-Lệ rằng: « Bấy lâu nay tôi tưởng nó là người tử tế, nên mới kết bạn với nó mà chơi, có dè đâu mà nó là một đứa tiểu-nhân, kiêu căng xất xược, nói phách chẳng ai bằng; nó thấy tôi tới lui với cô thì nó làm hơi mặt quân-tử mà ngăn cảng tôi hoài, nó chê tôi dại, lấy cô mà ăn những vật gì, nó lại nhiếc cô là gái mất nết, gái chạ, gái hư; thật là nó nhiếc rất quá lời, nó lại còn nói phách rằng chừng nó có cưới vợ thì nó sẽ lựa chỗ cho xinh đẹp như tiên, lại giàu sang cho tột bực thì nó mới cưới; chớ gái mà lục lục như cô vậy, dầu có đam tới lạy nó mà cho không, nó cũng chẳng thèm. Tôi giận quá, nên tôi gây với nó một hồi, rồi tôi mới bỏ mà lại đây. » Cẩm-Lệ nghe nói xúc tâm, nổi giận phừng phừng, liền hỏi Xuân-Kỳ rằng: « Thầy nói thằng nào đó, thằng nào mà nói phách lắm vậy? » Lê-xuân-Kỳ nói: « Thì có ai, có một mình thằng giáo Chí đó chớ ai. » Cẩm-Lệ chưởi mắng bông lông một hồi rồi nói rằng: « Thôi, thầy ở đây coi giùm nhà cho tôi, để tôi lại nhà giáo Chí, đặng mắng nó ba đều chơi cho nó biết mặt. » Và nói và lấy áo dài mặc vào rồi ngoe ngoảy ra đi. Lê-xuân-Kỳ liền kéo lại vuốt ve rồi nói rằng: « Cô đừng nóng mà hư việc, để thỉnh thoản toan mưu hại nó mà rửa hờn, còn hay hơn là chưởi mắng mà có ích gì. » Cẩm-Lệ nghe lời, bèn ngồi lại xỉa thuốc ba ngoai, giảnh mấy ngón tay có đeo hột xoàn ra mà chưng cho Lê-xuân-Kỳ coi rồi hỏi rằng: « Thầy tính mưu gì hay mà hại nó cho được? » Lê-xuân-Kỳ nói: « Khó khiết gì! Để ít bữa cho nguôi ngoai cái chuyện tôi mới gây với nó đây, rồi tôi làm bộ tới lui giả lả mà làm quen lại với nó, rủ nó đến đây chơi, rồi làm như vầy............ như vầy............ thì nó chạy đường trời cũng không khỏi ở tù. » Cẩm-Lệ nghe nói lấy làm đắc kế, khen ngợi chẳng cùng.
Đêm ấy hai đàng thong thả, mặc dầu gió gió trăng trăng, ân mặng tình nồng nói sao cho xiết. Cẩm-Lệ lại cổi ra một chiếc nhẩn có nhận hột xoàn mà cho Lê-xuân-Kỳ và nói rằng: « Vật nầy là vật quí của em, sớm trưa em chẳng hề lìa ra cho khỏi ngón tay; nay vì em quá thương thầy, nên phải lìa nó ra mà cho thầy, để làm dấu tích, xin thầy chớ lấy làm thường. » Lê-xuân-Kỳ cảm tạ ơn nàng rồi phân tay ra về, vì trời gần sáng.
Bữa kia nhằm ngày thứ bảy, Lê-xuân-Kỳ đến thăm Hoàng-hữu-Chí và mời Hoàng-hữu-Chí đến nhà tình-nhân của mình mà dùng một bữa cơm chiều đặng đàm đạo chơi. Nguyên Hoàng-hữu-Chí là người tinh tế, hay cẩn thận lắm, thuở nay ít hay nghe ai mời rủ mà chịu đi đâu bao giờ, và bấy lâu cũng ít ưa Lê-xuân-Kỳ cho lắm; nhưng vì nghe Lê-xuân-Kỳ thường hay khoe khoan Cẩm-Lệ là gái sắc tài gồm đủ, ngôn hạnh đoan trang, mà nhứt là nghề nấu ăn khéo lắm; nên cũng dùng dịp ấy đến chơi một phen cho biết, mà đó cũng là cái phần Hoàng-hữu-Chí phải mắc cái nạn lao tù vài tháng, nên khiến cho chàng ta hứa chịu. Lê xuân-Kỳ mừng rở vô cùng, bèn dặn dò xin đừng thất tín, rồi từ giã ra về, đi thẳng qua nhà mà cho Cẩm-Lệ hay đặng có toan tính với nhau sắp đặt lưới rập cho sẵn sàng mà chờ Hoàng-hữu-Chí.
Chiều bữa ấy lối sáu giờ, Hoàng-hữu-Chí vừa bước đến nơi, Lê-xuân-Kỳ làm bộ mừng rở chạy ra bắt tay mời vào chuyện vãn lăng xăng, rồi lại kêu mình ơi, mình hởi, mà nói rằng: « Thầy giáo đã lại rồi đây nè mình ơi! » Cẩm-Lệ ở trong nhà sau bước ra chào hỏi sơ sài, rồi xin kiếu vì mắc lo đồ ăn sau bếp.
Ngoài nầy Lê-xuân-Kỳ cứ ân cần mời Hoàng-hữu-Chí uống vài ly khai vị (apéritif) đặng có dùng cơm cho ngon bữa; và uống rượu và kiếm chuyện dông dài mà nói cầm chừng, vì bợm-ta nói gạt Hoàng-hữu-Chí rằng có mời đôi ba ông bạn đồng-liêu, nên phải uống rượu nói chuyện cầm chừng mà chờ khách. Đó là bợm-ta cố ý làm bữa ăn trễ cho khuya, cho tiện bề hạ thủ. (Viết tới đây ký-giả cũng bắt ghê bắt gớm cho cái lòng nham hiểm của người đời, càng thấy chừng nào càng thêm chán ngán).
Trời một ngày một khuya mà không thấy ai hết. Lê-xuân-Kỳ làm bộ xăn văn xéo véo, chạy ra chạy vào mà ngó chừng hoài, dường như trông ai lắm vậy. Đồng hồ gần gỏ tám giờ rồi mới làm bộ giận dũi mà nói rằng: « Thật mấy anh nầy khốn nạn quá! Đi, không đi gì cũng cho người ta biết, có lý nào đã hứa đi rồi để cho người ta chờ gần trối chết. Thôi, thây kệ, họ có tới trể thì họ uống rượu khan cho họ biết chừng. » Nói rồi liền nắm tay Hoàng-hữu-Chí dắc lại bàn ăn và nói rằng: « Trễ quá rồi, tôi đói bụng lắm, thôi, hai anh em mình đi ăn, chớ ai hơi sức đâu mà chờ họ nữa. » Rồi đó hai người ngồi lại ăn uống chuyện trò với nhau, Lê-xuân-Kỳ cố ý kiếm chuyện minh minh mông mông, ngông ngông nghênh nghênh mà nói mãi chớ không chịu dứt. Hoàng-hữu-Chí coi chừng đồng hồ, thấy đã chín giờ rưởi rồi, một lát lại thấy mười giờ. Có nhiều khi muốn giợm đứng dậy kiếu về, mà bị Lê-xuân-Kỳ cứ ngồi nói chuyện dông dông dài dài mà cầm lại mãi.
Gần mười một giờ khuya, Hoàng-hữu-Chí nhứt định kiếu về, Lê-xuân-Kỳ liệu chừng giờ ấy cũng vừa buổi ra tay rồi, bèn giả chước nói với Hoàng-hữu-Chí rằng: « Bây giờ trời cũng đã khuya rồi, vậy để tôi đóng bớt cữa giùm cho cổ, rồi tôi cũng đi về, tiện đường tôi xin đưa thầy về nhà luôn thể. » Đã đôi ba phen Hoàng-hữu-Chí muốn dứt ra mà về một mình, song bị Lê-xuân-Kỳ ân cần cầm cọng quá, nên không nở phất ý. (Thường người quân-tử mà mắc kế đứa tiểu-nhân, thì cũng vì có một cái lòng không nở mà thôi). Lúc nầy chén bác cổ bàn thì Cẩm-Lệ đã dọn dẹp hết rồi.
Khi Lê-xuân-Kỳ đóng cữa xong rồi lại giả ý nói rằng: « Xin thầy chịu phiền chờ tôi một chút, tôi đi tiểu tiện, tôi trở vô liền, rồi mình sẽ đi về với nhau. » Nói rồi liền tằng hắng một tiếng bèn bước rảo ra ngoài tìm đường mà dông mất. Hoàng-hữu-Chí ơ hờ, không dè là kế. Trong nầy Cẩm-Lệ nghe tằng hắng và thấy Lê-xuân-Kỳ đi rồi thì hội ý, liền bước ra làm bộ sợ gió, vói khép cữa lại, rồi quày trở vô, xuất kỳ bất ý, tay chụp niếu Hoàng-hữu-Chí, còn miệng thì thổi đèn và la làng inh ỏi. Hoàng-hữu-Chí thất kinh, miệng thì kêu Lê-xuân-Kỳ, còn tay thì gở Cẩm-Lệ ra đặng có giải vây mà chạy. Ai ngờ Lê-xuân-Kỳ đâu không thấy, lại thấy nào là Hương-quản, nào là lính tuần, nào là dân làng hơn trót mười người, kẻ đòn tay, người thước nách, ào vô áp bắt Hoàng-hữu-Chí; rồi hối đốt đèn lên đặng có mở đàng tra vấn. Hương-quản làm bộ nhìn coi rồi giả ý lấy làm lạ mà nói rằng: « Ủa! Thầy giáo đây mà! Trời đất ôi! Thầy làm cái gì mà lạ vậy thầy? Nhà người ta là con gái côi cút có một mình, đêm hôm tăm tối, thầy lỏn vào đây chi vậy? » Hoàng-hữu-Chí cứ đem việc Lê-xuân-Kỳ mời mình ăn cơm mà thuật lại, mà có ai chịu tin cho. Hương-quản nói: « Thầy nói sao khó nghe quá! Vã thầy Lê-xuân-Kỳ có nhà có cữa, cách đây cũng chẳng bao xa, nếu thẩy muốn đãi thầy thì mời về nhà thẩy mà đãi, chớ ở đây là nhà của Cẩm-nương, có bà con thân thích gì với thẩy mà thẩy mời thầy lại đây ăn cơm; thầy nói sao lạ vậy? À! Còn như thầy nói thẩy mời thầy ăn cơm, vậy chớ thẩy ở đâu, sao không thấy; có phải là tình ngay mà lý gian chăng? » Hỏi Cẩm-Lệ thì Cẩm-Lệ cứ khai quyết rằng: « Tôi đang ngủ nửa đêm, không biết thẩy cạy cữa mà vô hồi nào, ý muốn gian dâm, tôi không chịu, thẩy lại hâm dọa đòi giết tôi. nên tôi sợ mà la làng. Thẩy muốn thoát chạy, bị tôi niếu kéo nhủn nhẳn, may nhờ mấy ông tới kịp, chớ không thì ắt thẩy đã giết tôi rồi. » (Nguyên Lê-xuân-Kỳ đã mướn bọn nầy mà sắp đặt trước rồi; cho nên Hoàng-hữu-Chí dầu có cái lưỡi bén như gươm đi nữa, cũng không cải cho qua được). Hương-quản lại làm bộ ngay thẳng mà nói rằng: « Cô nầy khai vậy, thầy nọ khai vầy, chưa biết ai ngay ai gian, phận tôi làm làng, cứ việc còng khan, giải nạp tới quan, chừng ấy hai đàng, mặc dầu đối nại. » Nói rồi liền hối dân còng Hoàng-hữu-Chí lại. Ban đầu Hoàng-hữu-Chí còn vùng vẩy không chịu cho còng, sau thấy chúng nó đông quá, liệu cự không lại, mà còn e nếu mình cự với chúng nó đây thì ắt chúng nó sẽ làm nhục mình; chi bằng tùy thời nhẫn nại, chờ đến chỗ công-lý sẽ hay. Bỡi nghĩ vậy nên cũng dằn lòng mà để cho những bọn đầu trâu mặt ngựa, mặc dầu còng trói.
Thiệt là: Rồng nằm nước cạn tôm lờn mặt,
Cọp xuống đất bằng chó ngoắt đuôi.
Liền đó, Hương-quản dạy dân dắc Hoàng-hữu-Chí đem về giam đỡ tại bót làng. Sáng ra bữa sau mới làm phúc-bẩm rồi hiệp với khai báo hai đàng và chứng cớ mà giải hết nội vụ đến quan Biện-lý.
Quan Biện-lý liền tra hỏi tên họ cha mẹ, quê quán, tổng làng, tên tuổi và chức nghiệp xong xuôi, dạy giam Hoàng-hữu-Chí rồi giao hết giấy tờ nội vụ cho quan Bồi-thẩm mở đàng tra vấn.
Ngày ấy thiên hạ lao nhao lố nhố, xậm xì, xậm xịt đồn rùm rằng: « Đêm hôm qua thầy giáo Hoàng-hữu-Chí lén đến cạy cữa vào nhà Cẩm-Lệ, cố ý cường dâm sao đó, bị làng bắt giải, tòa đã giam rồi. Nghe được tin chẳng lành ấy nội nhà bà Phủ, cả ba mẹ con đều lấy làm lạ, dường như sét đánh vào tai, suy tới nghĩ lui, bàn qua tính lại rằng: « Không lẽ, một người học thức như vậy, tánh tình như vậy mà lại làm đều nhục nhã, vô liêm sỉ, bất lương tâm? » Rồi lại nghĩ rằng: « Mà cũng không lẽ, chó đâu có sủa lỗ không? Nếu không vậy thì đêm hôm khuya khoắc, ma dắc lối quỉ đem đường hay sao mà đi đâu đó cho người ta bắt vậy? » Lúc ấy bà Phủ lấy làm bối rối, vì bấy lâu bà thấy tánh tình và thái độ của Hoàng-hữu-Chí mà thương, nên bà quyết ý muốn gả Xuân-Lan cho chàng, song chưa kịp tính, mà nay lại sanh ra việc luân thường tồi bại như vầy, làm cho bà thất vọng. Bèn tính để hỏi thăm và dọ nghe lại thử coi cho biết chơn giả lẻ nào rồi sẽ liệu.
Còn Hoàng-hữu-Chí bị giam trong khám, cứ ngồi lặng thinh, trầm tư mật tưởng, suy nghĩ một mình. Nghĩ tới cái mưu gian của Lê-xuân-Kỳ thật là quá độc, chừng ấy mới biết lòng người nham hiểm, nghĩ lại mà dùng mình. Bèn nói thầm rằng: « Hèn chi người ta nói: Bất phách hổ sanh tam cá khẩu, chỉ khủng nhân hoài tưởng dạng tâm. Thật là lời ấy không lầm. » Một mình suy tới nghĩ lui, mới biết cái đường đời nó gay go là thế. Tuy vậy chớ chàng ta cũng chẳng hề nao núng tấc lòng, vì tự biết cho mình hẵn thật là vàng mười; càng nung nấu chừng nào thì càng tốt càng tươi, không sờn không rúng.
Dầu cho sấm sét búa riều,
Cũng đam vàng đá mà liều với thân.
Song ngồi mà nghĩ lại từ ngày ta lên đất Tây-ninh đến nay, chẳng có một người biết được lòng ta; duy có một mình bà Phủ Ân biết ta mà yêu vì kính trọng đó thôi, thế thì bà Phủ nầy tức là tri-kỷ của ta đó. Đến như cái việc hàm oan của ta đây, mặc tình thế tục nghị luận lăng xăng, dầu họ có đề quyết cho ta đi nữa, ta cũng chẳng sờn, ta chỉ phú cho cao-xanh soi xét. Ta lo là lo có một mình bà Phủ mà thôi, vì sợ e bà cũng lấy theo phụ nữ thường tình mà ức độ cho ta rằng quả có làm đều cang danh phạm nghĩa ấy, thì rất uổng cho cái lòng tốt của bà yêu vì kính trọng ta tự bấy lâu nay. Vậy thì ta phải tạm kính ít hàng gởi ra mà tố trần cái đều oan khuất của ta cho bà rõ, đặng cho bà minh được cái tâm-tích của ta, dầu có thác cũng đành nhắm mắt. » Nghĩ rồi bèn hỏi lính gát khám, mượn một cây viết chì và xin một chút giấy viết lảo thảo vài hàng như vầy:
Một ngày tri ngộ, muôn kiếp ghi xương;
Tai họa phi thường, cao-xanh soi xét;
Tình đời thương ghét, cháu để ngoài tai;
Cháu một xin bà, biết cho là đủ.
Phạm-nhân, Hoàng-hữu-Chí bái thượng.
Viết rồi xếp lại, cậy người lính gát, chờ lúc mãn phiên, xin đem ra giùm trao cho bà Phủ.
Khi bà Phủ được thơ, liền lấy ra một đồng bạc mà cho tên lính đem thơ. Tên lính tạ ơn đi rồi, bà mới kêu hai cô con ra, dạy ngồi bên cạnh, rồi mới mở bức thơ ra mà xem chung với nhau. Bà và xem thơ và suy nghĩ hồi lâu rồi mới nói với hai cô con rằng: « Thầy giáo thẩy nói như vầy thì má cũng bán tín bán nghi quá đi con; vậy sẵn thầy thông đứng bàn của quan Bồi-thẩm nầy với má cũng có quen. Thôi, để tối nay má đi lại nhà thẩy mà hỏi thăm thử coi, lời khai báo thể nào và việc dữ lành cho biết. » Hai cô con cũng lấy làm phải.
Đêm ấy lối bảy giờ, bà ngồi xe kéo đến nhà thầy thông. Nguyên thầy thông nầy vẫn cũng biết bà là người đạo-đức, nên có lòng kính trọng đã lâu, khi thấy bà bước vào thì vội vàng chào hỏi lăng xăng, lại hối bồi rót nước bưng ra mời bà rồi hỏi rằng: « Chẳng hay bà có việc chi mà đến nhà cháu tăm tối như vầy? » Bà Phủ bèn tỏ thật việc mình muốn đến hỏi thăm về vụ thầy Hoàng-hữu-Chí. Thầy thông liền lắc đầu mà nói rằng: « Cha chả! Tội nghiệp cho thầy giáo Chí quá, vì tôi biết thẩy tuổi tuy còn nhỏ mà ăn ở dễ thương; từ ngày thẩy đổi lại đây tới nay, thật thẩy chẳng biết mích lòng một thằng con nít. Không biết thẩy có thù oán chi với thông Kỳ hay không mà sanh ra việc lăng nhăng như vậy? Thật chuyến nầy tôi sợ cho thẩy ắt gở không ra rồi đa bà. Vì theo lời khai của thẩy thì thẩy nói rằng thầy Lê-xuân-Kỳ mời thẩy lại nhà tình-nhân là Cẩm-Lệ mà ăn cơm; thẩy vô ý ơ hờ, không dè bọn kia âm mưu toa rập với nhau, sắp đặt sẵn trước bao giờ mà gạt thẩy, cầm thẩy ở lại cho khuya rồi phao vu cho thẩy những đều vô liêm sỉ vậy vậy.......... Còn con Cẩm-Lệ thì nó khai quả quyết rằng nó là gái mồ-côi, một mình ở một nhà, đương ngủ nửa đêm, bị thầy giáo Chí cạy cữa lỏn vào, mong toan cường bức, ép uổng gái tơ, muốn vùi hoa dập liểu, lại hâm dọa đòi chém đòi đâm là khác nữa. Hỏi Lê-xuân-Kỳ thì va khai rằng đêm ấy va ngủ ở nhà va, cách nhà Cẩm-Lệ hơn năm trăm thước; va cũng không quen biết chi với thầy giáo Chí mà mời thẩy ăn cơm, mà nếu có mời ăn cơm thì mời thẳng về nhà của va, chớ Cẩm-Lệ là gái chưa chồng, lại cũng chẳng phải bà-con thân-thích chi với va, thì có lý nào mà va lại được mời khách tới ăn cơm nơi nhà Cẩm-Lệ.
Hỏi chứng là Hương-quản và một tên lính tuần với tám tên dân làng, thì chúng nó đều khai có một rập với nhau rằng đêm ấy lối mười một giờ khuya, chúng nó đương đi tuần đường cũng gần lối đó, thình lình nghe tiếng Cẩm-Lệ la làng, bèn rủ nhau chạy tới, thấy trong nhà Cẩm-Lệ đèn đuốc tối thui, tông cữa áp vào nổi đèn lên thì thấy Cẩm-Lệ miệng còn la làng mà hai tay thì niếu thầy-giáo Chí nhủng nhẳng gần lối cữa buồng, nên chúng nó phải bắt thẩy và lấy khai rồi giải nạp. Đó! Bà nghỉ mà coi, bên thầy giáo thì chứng cớ không ngơ, còn phía bên bọn Cẩm-Lệ thì đông, mà họ xúm nhau chúng khẩu đồng từ thì chết tươi thầy giáo rồi còn gì! Cha chả! Khó quá!! Chuyến nầy tôi sợ thẩy gở không nổi đa bà. » Và nói và chắt lưỡi lắc đầu, lại vói lấy một điếu thuốc, quẹt lửa lên đốt hút phì phà vài hơi rồi lại nói rằng: « Bây giờ mà muốn lo cho thẩy thì phải mướn quan Thầy-kiện bàu chữa mới xong; chớ việc nầy tuy coi su sơ như vậy, mà nữa đây chắc sẽ giải cho tới đại-hình lận đa bà. » Bà Phủ nghe rõ đầu đuôi, mặt mày buồn nghiến, liền đứng giậy tạ ơn và từ giã thầy-thông rồi lên xe kéo quày quả về nhà thuật lại cho chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan nghe. Thu-Cúc nghe rõ trước sau rồi ngồi làm thinh và suy nghĩ một mình, hồi lâu mới hội ý, liền kêu bà Phủ mà nói rằng: « Nè má! Phải rồi đa má!! Thật quả thầy Hoàng-hữu-Chí đã lầm mưu độc của bọn nầy rồi đa má. Vì con vẫn có nghe danh Lê-xuân-Kỳ là một đứa tham tài háo sắc, phản phúc tiểu-nhân, mà nó lại có tư tình với con Cẩm-Lệ đã lâu. Còn thầy Hoàng-hữu-Chí nầy là một người khí khái, tánh tình cang trực, hay quí trọng người quân-tử, mà khinh bạc đứa tiểu-nhân. Mỗi khi đàm luận với ai, thì thẩy thường dùng nghĩa chánh từ nghiêm, chẳng chịu bợ bưng, không hay vì nể; bỡi vậy mà hay mích lòng những kẻ tiểu-nhân, cho nên ngày nay mới sanh họa. Vì lời xưa có nói: Khinh bạc chi thái, thi ư quân-tử tắc táng ngô đước; thi ư tiểu-nhân tắc sát ngô thân. Mà thật rõ ràng như vậy đó. » Bà Phủ nghe Thu-Cúc luận mấy lời, bà cũng cho là phải; bèn nói với chị em Thu-Cúc rằng: « Việc nầy cũng tại nó cậy nói em con, mà má không chịu gả, phần thì nó thấy Hoàng-hữu-Chí thường hay lai vãng nhà ta, nên nó mới sanh lòng đố kỵ mà di oán qua cho Hoàng-hữu-Chí. Nay thầy Hoàng-hữu-Chí mà mắc họa đây, gốc cũng bỡi nhà mình mà ra. Vậy thì má cũng phải liều tốn ít trăm, mướn Thầy-kiện cho đại tài mà cứu thẩy, chớ phép sao bây giờ. » Còn đang bàn luận với nhau, bỗng nghe đồng hồ đã gõ mười giờ; bà Phủ bèn đi nghỉ.
Đêm ấy hai chị em Thu-Cúc với Xuân-Lan, cùng nhau luận luận bàn bàn, lo tới tính lui, trót một hai giờ mà lo cũng chưa ra chuyện. Một chặp lâu Xuân-Lan mới nói với Thu-Cúc rằng: « Nè chị! Lấy theo lời của má luận với chị em mình hồi nảy đó, thì té ra thầy Hoàng-hữu-Chí mà bị hoạn họa đây, là gốc bỡi nơi em mà ra. Thế thì em không nỡ điềm nhiên tọa thị mà để vậy cho đành, nên em muốn liều cái thân danh, chịu mang lấy tiếng nhơ trong một lúc mà cứu Hoàng-hữu-Chí cho được vẹn toàn; chẳng hay ý chị thể nào xin nói cho em rõ với. Thu-Cúc hỏi: « Em muốn dùng cách nào đặng cứu thẩy mà phải liều mất cái thân danh vậy em. » Xuân-Lan liền kề tai nói nhỏ với Thu-Cúc một hồi rồi lại nói rằng: « Làm như vậy...... như vậy...... đó, thì cứu thẩy mới được. » Thu-Cúc nghe rõ rồi mỉn cười và vỗ vai Xuân-Lan mà khen rằng: « Cái kế của em tính đó dầu cho Phạm-Lải tái sanh cũng không hơn được; vã nó là một đứa háo sắc, nếu em dùng kế đó, ắt nó phải máng rồi, em cứ thi hành liền đi, mựa đừng dụ dự; song em phải cẩn thận cho lắm mới được đa em. » Xuân-Lan lại nói: « Mưu bất khả chúng, cho nên lời em nói ra thì nó lọt vào tai chị mà thôi, chớ em há đi dại gì lại nói với ai hay sao mà chị phòng dặn vậy; chí như má ở nhà đây, chị em mình cũng phải dấu luôn, nếu chừng nào má thấy em làm như vậy....... như vậy....... mà má có tưởng em là đồ mất nết, thì mặc tình quở trách đuổi xua, em cũng cam tâm mà chịu; miễn làm sao cho mưu kế được thành mà cứu người là đủ. » Thu-Cúc gặt đầu khen phải. Rồi đó hai chị em lại rù rỉ nhỏ to với nhau một hồi rất lâu, sắp đặt rập ràng đâu đó xong xuôi thì đồng hồ đã gõ một giờ khuya rồi. Chừng ấy hai chị em mới tắt đèn dắc nhau đi nghỉ.
Từ đó mỗi buổi sớm mai, cô Xuân-Lan thường đi chợ, đầu cổ cô ngó vẽn vang, hình dung cô xem rất đẹp; bữa thì cô mặc áo cẩm-nhung đen, bữa thì cô lại đổi áo sa-ten màu tím sậm; cổ có đeo ba sợi dây chuyền, hai cườm tay cô lại đeo hai xâu chuổi hột, ngón tay cô như mũi viết, cổ tay cô tròn vo; nước da cô trắng đỏ, nét mặt cô sáng rở như một đóa phù-dung. Cái vẽ đẹp của cô thật là tuyệt thế vô song, lục tĩnh ta cũng ít có.
(Phàm viết sách mà dụng cách tả chơn thì phải tả ra cho rõ mà xem: chớ từ xưa đến nay những cô gái nào có phước mà được có cái vẽ đẹp thiên nhiên rồi, dầu cho ăn mặc cách nào, thức gì, thì cái vẽ xinh đẹp tự nhiên cũng xinh đẹp).
Khi ra tới chợ rồi thì cô cứ cố ý mua bươn, mua bả, mua hối, mua hả cho rồi, đặng lựa cho đúng giờ của Lê-xuân-Kỳ đi làm việc, mà về cho kịp, cho hai đàng gặp nhau; mà mỗi khi gặp nhau, cô lại làm màu nét mặt tươi cười, chào hỏi một cách rất là niềm nở.
(Húy chao ôi! Một cái nét cười của một ả mỷ-nhân, dễ gì mà có, dễ gì mà mua cho được).
Ban đầu hễ gặp nhau thì bất quá là chào hỏi sơ qua vậy thôi, vậy mà còn làm cho Lê-xuân-Kỳ thần-tình phải điên đảo thay! Huống chi sau rồi lần lần cô lại làm ra tuồng mi lai nhãn khứ, thì Lê-xuân-Kỳ tài nào mà không điến ngất cả người.
Thường bữa cũng thường gặp nhau như vậy, mà ngày nào cô cũng cố ý làm mồi trêu ngươi như vậy, làm cho tam hồn thất phách của Lê-xuân-Kỳ đều phải dật dờ dật dưởi bay bổng theo cô; duy ức có một đều là không biết làm sao cho được gần cô mà tỏ bày tâm sự.
Những mảng lần lừa như vậy mà đã trót tháng ngoài, kế nghe Tòa đã giải Hoàng-hữu-Chí về Saigon đặng chờ ngày Đại-hình hội xử.
Bà Phủ hay được tin ấy, liền lấy bạc bỏ lưng, phú thát nhà cữa cho Xuân-Lan, dắc Thu-Cúc theo làm Thông-ngôn, mướn xe hơi đưa hai mẹ con bà xuống Saigon tìm nhà quan Thầy-kiện mà lo cho Hoàng-hữu-Chí; bà năn nỉ với ngài xin rán bào chữa giùm đặng cứu người vô cô mà thọ khuất. Bà lại nhơn hỏi thăm luôn cho biết ngày nào Tòa Đại-hình xử vụ Hoàng-hữu-Chí. Quan Thầy-kiện bèn nói cho bà hay rằng ngày 18 tháng Octobre là ngày Tòa Đại-hình hội xử; ngài lại hứa với bà rằng ngài sẽ rán hết sức hết lòng tìm cho ra cớ, để biện giải mà lấy danh, bà hãy an lòng không sao mà ngại.
Rồi đó bà liền đóng tất số bạc cho quan Thầy-kiện và từ giã mà ra, bà lại nhơn tiện, bảo xe đưa hai mẹ con bà lên đường Thuận-kiều đặng bà thăm vợ chồng ông Phán-Ngãi là người quen lớn với vợ chồng bà tự bấy lâu nay.
Khi xe bà Phủ vừa ngừng nơi trước cữa, thì vợ chồng ông Phán đang ở trong nhà, xem thấy mừng rở chạy ra chào hỏi lăng xăng, hối trẻ xách cái quả cẩn của bà vô nhà, trầu nước khuyên mời và cầm luôn bà ở đó dùng cơm. Nhơn thấy Thu-Cúc cốt cách phương phi, nết na đầm thấm thì hỏi rằng: « Ủa! Con cháu đây là con ai vậy chị Phủ? » (Vì hai vợ chồng ông Phán vẫn biết bà Phủ không có con cái chi, mà nay thấy có một cô gái nào cực kỳ xinh đẹp, nề nết đáng thương mà đi theo bà đây, nên mới lấy làm lạ mà hỏi thăm cho biết). Bà Phủ bèn đam hết lai lịch của hai chị em Thu-Cúc và Xuân-Lan đầu đuôi sự tích từ ngày bà gặp và đem hết cả ba chị em về mà nuôi làm con; hai gái thì ở nhà sớm trưa hủ hỉ với bà, còn một trai thì bà lại đóng tiền mà cho ở học tại trường Nguyễn-phan-Long Saigon, cùng những việc gởi bạc giúp thêm học phí cho Phan-quốc-Chấn bên Tây và việc Hoàng-hữu-Chí mắc nạn mà bà phải đi lo; trước sau các việc bà thuật hết một hồi cho hai vợ chồng ông Phán-Ngãi nghe. Hai vợ chồng ông Phán nghe rõ đầu đuôi thì lấy làm khen ngợi bà Phủ là người độ lượng khoan nhơn; thật là một người trọng nghĩa khinh tài, nữ trung hào kiệt.
Rồi đó ông Phán lại chỉ Thu-Cúc mà nói với bà Phủ rằng: « Tưởng cháu đây là con ai, té ra nó là con của anh Huyện Nguyễn-trọng-Luân. Cơ khổ! Vậy mà tôi quên phứt nó đi chớ, vì lúc ảnh còn ở Saigon thì nó còn nhỏ xíu, phần thì chị em nó mắc ở học trong Nữ-học-đường, tôi tới chơi với ảnh hoài mà ít hay thấy nó; rồi từ hồi ảnh về trển tới nay, cũng 4, 5 năm gì đó, bây giờ cháu đà lớn đại, nên tôi không nhớ được. Tưởng là chị nói ai kìa, chớ ông già nó và anh Phan-mẫn-Đạt đều là anh em bạn học với tôi hồi buổi nhỏ. Đây nè!...... » Và nói và bước lại kéo cái hộc tủ lấy ra một bức thơ mà khoe với hai mẹ con bà Phủ và nói rằng: « Nầy là thơ của anh Huyện, ông già của cháu đây, mới gởi về cho tôi hai ba bữa rày mà cho tôi hay rằng ảnh với anh Phan bây giờ đương làm chủ-bút cho một Tòa báo Quốc-văn tại Bắc-kỳ và ảnh có cậy tôi gởi thơ lên Vỉnh-an-hà mà hỏi thăm giùm tin của mấy cháu; tôi chưa kịp viết, mà cũng may sao hôm nay chị lại dắc cháu đến đây; ấy quả là lòng trời xui khiến đó. » Thu-Cúc nghe được tin tức của cha mình thì khấp khởi mừng thầm, bèn liếc mắt xem coi thấy bức thơ ông Phán đương cầm trên tay, nhìn đã rõ ràng thật quả là bút tích của cha mình, không sai một nét; trong lòng mừng quá đổi mừng.
Thật là: Khi nên trời cũng chìu người,
Mừng nầy dầu được vàng mười chẳng hơn.
Lúc ấy bà Phủ cũng vui lòng, lấy làm toại chí; bà lại hối Thu-Cúc viết thơ gởi liền ra Bắc mà thăm cha nàng nội trong ngày ấy. Thu-Cúc liền hỏi ông Phán xin giấy viết thơ, tỏ hết đầu đuôi gốc ngọn nhứt nhứt các việc từ ngày cha mình ra đi cho đến bây giờ, rồi niêm phong tử tế, lại hỏi thăm ông Phán cho biết chỗ ở của cha mình mà đề bao thơ rồi đem bỏ thùng mà gởi đi liền nội trong ngày ấy.
Hết Phần 5
Đây là chương 5/7 của Lòng người nham hiểm. Lòng người nham hiểm là tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).
Chuyện đến đâu rồi?
Câu chuyện mở ra khi Hoàng-hữu-Chí, chàng giáo viên trẻ, gặp bà Phủ Ân ở núi Điện và được mời đến nhà. Rồi gia đình quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân sa sút vì bảo lãnh nợ cho bạn, tài sản bị tịch biên, hai con gái Thu-Cúc và Xuân-Lan phải đi lánh nạn và tự mưu sinh. Hai chị em tìm cha mẹ không gặp, rồi được bà Phủ nhận làm con nuôi; bà còn giúp Phan-quốc-Chấn ở Pháp tiếp tục học. Lê-xuân-Kỳ, bị từ chối cầu hôn, nuôi lòng oán hận và bày mưu hãm hại Chí, khiến chàng bị bắt oan và giải lên quan Biện-lý, bà Phủ và hai chị em bắt đầu tính cách cứu chàng.
Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Lòng người nham hiểm.