Phần 2
Khi ông đi rồi, chẳng mấy ngày thì sự-nghiệp cữa nhà của ông đều bị phát mải hết, mà trừ cũng chưa đủ số nợ ấy, thật khổ biết dường nào! Thật là cuộc đời dời đổi, thương hải tang điền; một cái cảnh gia-đình của ông xem rất vẽ vang, trong vui ngoài đẹp như vậy; bỗng nhiên vùng đất bằng sóng dậy, trong một phút mà phải tiêu điều; những kẻ có lương-tâm, thấy cái cảnh-tượng như vầy, ai mà chẳng đau lòng xót dạ.
Lúc nầy Thu-Cúc với Xuân-Lan cũng nhờ có chút đỉnh bạc tiền của ông để lại, bèn đem ra mua một cái nhà tranh cũng gần lối đó, chị em khuya sớm hủ hỉ với nhau, thêu gối mạng khăn bán lấy đồng tiền mà đấp đổi với nhau và nuôi em là Trọng-Liêm ăn học.
Mà thật cũng ngán cho cái thói đời, lúc ông mới về tạo lập gia-cư, trong nhà thì tôi trai tớ gái đã rần rần, ngoài ngỏ những khách quí bạn sang thêm rộ rộ. Đến nay nhà ông rủi mà gặp hồi lưu-ly điên-bái, sa cơ thất thế đi rồi; ối thôi! Một khóm lều tranh không kẻ đoái, hai gian nhà lá chẳng ai màng. Thật rõ ràng là:
Nhơn-tình tợ chỉ trương trương bạc,
Thế sự như kỳ cuộc cuộc tân.
Một đêm kia, hai chị em chong đèn đem mặt gối căng ra, rồi ngồi lại vừa thêu vừa trò chuyện với nhau, nhơn nhắc tới những chuyện đâu đâu, xiết bao trăm thãm ngàn sầu, dòm lại trong nhà, vắng trước quạnh sau, liền nhớ tới mẹ cha, vùng sa nước mắt.
Ôi! Xưa sao nhiều kẻ ra vào?
Chừ sao vắng trước quạnh sau một mình.
Một chặp lâu Xuân-Lan bèn lau nước mắt rồi nói với Thu-Cúc rằng: « Nè chị! Hồi mình còn ở đằng cái nhà ngói lớn của mình đó, đã có cha mẹ mình ở nhà, lại thêm bạn bè rần rần rộ rộ, lúc ấy em thấy những bạn hữu của cha mình sao mà họ tới tới lui lui thường quá; mà ông nào ông nấy coi bộ cũng anh anh em em, làm ra như tuồng thân-thiết với cha mình lắm vậy. Thật hồi đó em mảng lo có một việc cơm cơm nước nước mà mệt đa chị. Rồi bây giờ sao không thấy mấy người ấy họ tới lui nữa, có nhiều khi em đi chợ, em cũng có gặp họ, mà họ lại ngó ngang, họ coi em như kẻ thù của họ, chớ họ không có mừng mừng rở rở và kêu em bằng cháu cháu con con như hồi đó vậy nữa đâu chị à! Thật cái nhơn-tình gì mà vô doan quá chị há! » Thu-Cúc nghe Xuân-Lan nói mấy lời, liền chíp miệng mà than rằng: « Nhơn-tình lãnh noản, thế-thái viêm lương, hơi sức đâu mà nói cho mệt vậy em! Nhưng, cũng có một hai người vẫn còn nghĩ tình giao hảo với cha mình mà chiếu cố chị em mình đó là những người trung hậu quân-tử, hữu thỉ hữu chung. Chớ còn nói chi những bọn phàm-phu tục-tử, phản phúc tiểu-nhân, hễ lúc thạnh thời thì nó lân la lui tới, xu phụ phùng nghinh, nào là rượu thịt, nào là cơm canh, chị chị anh anh, tình thân-mật biết bao là khắn-khít. Tới hồi vận bỉ, hễ nó nghe chừng có sa sút lẽ nào, thì chẳng những nó đã lánh xa, lại còn khua môi uống lưỡi, kiếm chuyện dèm pha, nói chùng nói lén, khi bạc dể duôi, thêm thừa thêu dệt, chiết bác người, làm cho hư danh-giá của người, cho vừa cái lòng gian ngoan giả dối của nó; ấy là loài nhơn diện thú tâm, nói sao cho xiết. Lúc đó chị thấy những bọn ấy thường tới lui bợ đở, làm ra tuồng anh em thân-mật, đặng có cậy cha mình giùm giúp cho chúng nó những việc nọ việc kia, thì chị biết nó là bọn dĩ-lợi-giao, bọn dối giả bề ngoài, nên chị có lấy câu: Luận giữ thị đốc, quân-tử giả hồ? Sắc trang giả hồ? mà khuyên can cha mình đừng có chơi bời giao thiệp với chúng nó làm chi, thì cha mình lại cười mà nói với chị rằng: « Cha vẫn biết chán hơn con, đợi gì con phải nói. Nhưng, cha nghĩ cái câu: Điểu thú bất khả giữ đồng quần, ngô phi tư nhân chi đồ giữ, nhi thùy giữ? Bỡi vậy cho nên cha phải lấy theo cái độ lượng của đức Phu-Tử mà đối đãi với người đời, chớ hơi sức đâu mà cố chấp lắm vậy con. » Cái lời nói ấy đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai; thật chị nghĩ lại cái độ-lượng của cha mình thinh thinh như biển, đối với quân-tử cũng xong, mà đối với tiểu-nhân cũng được. Thôi, chừ trời cũng đã khuya rồi, hãy dẹp đồ đi mà nghỉ ngơi cho sớm em. »
Lần hồi ngày tháng tợ thoi đưa, bóng thiều-quang như tên bắn, từ ngày quan Huyện để bước lên đường, lật bật mà tính đã ngoài hai tháng.
Bữa nọ chị em đương ngồi trong nhà, vùng nghe tiếng chó sủa vang, ngước mặt ngó ra thấy có tên trạm ở ngoài sân bước vào, trao một phong thơ. Xuân-Lan tiếp lấy, thấy chữ đề ngoài bao, nhìn biết là tuồng chữ của cha mình, chị em mừng rở vô cùng, liền xé ra đọc chung với nhau.
Bức thơ ấy như vầy:
Tây-ninh, le.................... 192...
« Mấy con yêu dấu ôi!
« Từ ngày cha xa cách mấy con, thắm thoát mà đã quá hai trăng rồi, từ ấy nhẩng nay, chẳng có giờ phút nào mà cha không áo não âu sầu, nhớ thương con trẻ; nỗi lo cho phận mẹ con, nương náu nơi nhà người, đói no ấm lạnh, nỗi lo cho phận trẻ ở nhà, hiêu quạnh trước sau, nỗi lo cho cái tiền-đồ của cha sau nầy chưa biết rủi may may rủi lẽ nào; vì vậy mà nó làm cho cha thân tâm lưỡng địa, tình chữ đa đoan; ngổn ngang trăm mối bên lòng, vơi vơi đất khách não nồng cố hương. Thật đương đứng trong cái cảnh cùng sầu nầy, dầu cho hình đất tượng cây, cũng phải nhăn mặt nhíu mày; huống chi cha là một người đa sầu đa cảm.
« Một đêm kia, mấy ông bạn của cha, ban đầu còn khuyên giải chuyện trò, sau lần lần trời đã khuya rồi, mấy ổng đều ngáy pho pho, mê man giấc điệp.
« Lúc bấy giờ, còn cha ngồi đó trơ trơ, một người một bóng, lo tới tính lui, đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời. Cha nhơn lấy cái cảnh buồn nầy mà ngụ ra một bài thi, nên cha gởi luôn về cho mấy con, để tỏ tấm lòng hoài cảm.
« Thi rằng:
« Mấy bước quan-san mấy bước sầu,
« Ngồi đây mà tưởng chuyện đâu đâu,
« Tấc lòng bận-bịu chia đôi ngã,
« Trăm mối ngổn-ngang chứa một bầu,
« Chúng bạn mê man rền tiếng ngáy,
« Mình ta trằn trọc trót canh thâu,
« Biết ai gởi phứt nùi tâm sự;
« Còn chác làm chi cái bịnh rầu.
« Nói cho phải, từ hôm cha lên ở đây tới nay, những anh em chúng bạn họ thấy cái tình-cảnh của cha gian-truân như vậy, họ sợ cha buồn rầu mà sanh ra bịnh hoạn chăng; cho nên mấy ổng thường hay kiếm lời khuyên giải cha, nay rủ đi chỗ nầy, mai kêu đi chỗ nọ, hoặc xơi trà mà đàm luận việc đời, hoặc ngồi ngựa mà đi giạo xem mấy nơi thắng-cảnh. Nhưng, đi thì đi vậy, chớ bề ngoài tuy cha cũng nói nói cười cười, cho vui lòng chúng bạn, mà bề trong cha vẫn cứ riêng tưởng một mình, dầu cho ai cũng vậy; đương lúc lưu-ly điên-bái như vầy, nếu có may mà được đến chốn Bồng-lai, được xem những kỳ hoa dị thảo, thủy tú san thanh đi nữa, thì trong lòng buồn vẫn cũng hoàn buồn, vì vậy mà cha lại nhớ tới câu:
« Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu?
« Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
« Rồi cha lại nhơn lấy câu ấy mà làm đề, ngụ ra một bài thi nữa, họa là nó có hã hơi chút đỉnh chi chăng. Nay cha cũng biên hết mà gởi về cho mấy con; đặng để làm kỷ-niệm cái ngày của cha con ta phải bước lưu-ly nầy.
« Thi rằng:
« Cảnh nào là cảnh chẳng đeo sầu,
« Người gặp lúc buồn cảnh cũng âu;
« Mây tỏa muôn chòm non núi ũ,
« Mưa sa mấy giọt cỏ hoa xàu,
« Vơi vơi lối cũ lòng ngao ngán,
« Thui thủi quê người dạ đớn đau.
« Thoản mảng nhớ thương ba trẻ dại,
« Trống thành nghe đã giục canh thâu.
« Nguyễn-Trọng-Luân. »
Hai chị em xem hết đầu đuôi rồi, nước mắt chảy ra dầm-dề, tấm lòng thương mẹ nhớ cha, chẳng có bút mực nào mà tả ra cho rõ được.
Chị em than thở một hồi, Thu-Cúc bèn lấy giấy mực họa vận theo bài thi sau để tỏ tấm lòng thương cha nhớ mẹ, ngâm đi đọc lại một hồi lâu rồi mới phong lại gởi lên cho cha.
Bài thi ấy như vầy:
Cảnh sao cảnh khéo giục cơn sầu,
Ngấm cảnh thêm buồn dạ phải âu:
Thơ kím theo mình lòng cũng toại,
Cỏ hoa trông chủ sắc như xàu;
Thương cha bảy lá gan chua xót,
Nhớ mẹ trăm chìu ruột quặn đau,
Kính lạy thung-đường xin bảo trọng:
Đất đông dầu mất đất dâu thâu.
Bất-hiếu-nữ, Thu-Cúc,
phụng hòa nguyên vận.
Hết Phần 2
Đây là chương 2/7 của Lòng người nham hiểm. Lòng người nham hiểm là tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).
Chuyện đến đâu rồi?
Câu chuyện mở đầu với chàng trai trẻ Hoàng-hữu-Chí, người được bà Phủ mời đến nhà sau lần gặp gỡ tình cờ tại núi Điện. Gia đình quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân vốn thanh bạch bỗng sa sút khi ông bảo lãnh nợ cho bạn là Phan-mẩn-Đạt, khiến gia sản bị phát mại và ông phải đi xa. Thu-Cúc và Xuân-Lan dọn về căn nhà tranh, thêu thùa nuôi em ăn học và chịu cảnh người đời lạnh nhạt. Sau hơn hai tháng, bức thơ từ Tây Ninh gửi về khiến hai chị em xúc động; Thu-Cúc họa thơ bày tỏ nỗi nhớ cha mẹ.
Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Lòng người nham hiểm.