Phần 4
Phía dưới chỗ bà Phủ ký tên lại có mấy hàng chữ nhỏ gạnh thêm như vầy:
« Hai nhà tai nạn, nay đã hầu qua, một tấc dạ nầy, đất trời soi xét; xin hãy gia tâm, giồi mài kinh sử, cho khỏi phụ tấm lòng háo nghĩa của người.
« Đôi hàng trân trọng, xin chớ phụ lời. Chí chúc! Chí chúc!
« Thu-Cúc bái thượng. »
Phan-quốc-Chấn xem rõ đầu đuôi, trong dạ ngùi ngùi, suy tới nghĩ lui, tâm thần tán loạn; nỗi lo cho hai ông lão đi ra đất Bắc là nơi xứ lạ quê người, khi mưa nắng biết lấy ai mà nương cậy; nỗi cám ơn bà Phủ, tấm lòng rộng thinh thinh, dầu cho biển Thái-bình, cũng không bì kịp; nỗi cảm tình Thu-Cúc, một lời của mẹ cha đính ước, mà nàng tạc dạ khăng khăng, dầu phải bước truân chiên, cũng không dời chí. Lúc bấy giờ, Phan-quốc-Chấn ngồi dựa cạnh bàn, tay chống tráng, mắt nhìn thơ, một mình nghĩ vẫn nghĩ vơ, mối cảm hoài lai láng. Một chặp lâu chàng-ta mới nhứt định lấy giấy viết thơ gởi về cho bà Phủ, trước là cho bà hay rằng mình đã được bạc và thơ, sau nữa là để tỏ ý tạ ơn bà luôn thể. Chẳng dè khi đặt bút xuống mà viết được có một hàng là đề chỗ ở và ngày tháng:
Paris, le.........................
Viết có bấy nhiêu đó rồi ngưng bút lại mà suy nghĩ mãi có một cái vấn-đề về cách xưng hô hơn trót một giờ mà chưa quyết định được, bây giờ đây mình gởi thơ cho bà mà phải kêu bà bằng má hay bằng bà? Suy đi nghĩ lại một hồi, rồi hỏi lại mình rằng: « Vậy phải kêu bà bằng chi bây giờ? Kêu bằng bà! Không được. Bà mà gởi bạc để giúp cho mình ăn học đây, là bà đã có ý đãi mình như tình con rể rồi đấy. Vậy phải kêu bằng má hay sao? Cũng không được! Một không hai không, ba bốn cũng không! Rất đổi quan Huyện là cha ruột của nàng Thu-Cúc kia mà mình còn chưa dám kêu bằng cha thay! Huống chi bà Phủ là mẹ nuôi của nàng mà mình lại dám kêu bà bằng má! Khó cha chả!! Phải liệu làm sao bây giờ?
Phan-quốc-Chấn lúc bấy giờ, hình như tượng gổ, cứ ngồi lặng thinh mà trầm tư mật tưởng mãi có một mình, như dại như ngây, lấy làm rối trí. Đến lúc chàng-ta đã cùng suy tột xét rồi mới nói rằng: « Nếu bây giờ mà mình kêu bà bằng má thì thật rất ngở ngàn, vì mình còn ở xa xuôi bên nầy, không biết được rõ bên ấy hai người đối đãi với nhau làm sao mà mình dám đánh bạo kêu bà bằng má, thành ra mình có ý phùng nghinh, bưng bợ bà vì cái số bạc mười hai ngàn quan của bà mới gởi qua cho mình đây chăng? Ôi! không phải vậy. Thật không phải vậy. Thế thì mình tính kêu bằng bà có khi phải hơn. Bao giờ bà có gởi thơ mà dạy lẽ nào nữa, thì chừng ấy ta sẽ tùy cơ ứng biến, cũng chẳng muộn gì. » Nghĩ như vậy rồi mới nhứt định kêu bà Phủ bằng bà thôi, liền viết thơ như vầy:
Paris, le...................... 192...
« Kính bà,
« Con mới vừa tiếp được một bức thơ rất quí trọng và một tờ măn-đa mười hai ngàn quan của bà đã có lòng tốt gởi qua để giúp con ăn học cho tới ngày thành đạt. Thật con rất đội ơn bà là một người nghĩa trọng như san, vừa hào-hiệp vừa nhân-từ, đã cứu người lạc nạn mà bảo tồn danh-giá cho mấy chị em Thu-Cúc tiểu-thơ, lại còn đam lòng trắc ẩn, đoái thương kẻ du học viển phương mà giúp đỡ con trong cơn khuẩn bức nơi xứ lạ quê người. Thật cái ơn trọng nầy ví tợ non sông, dầu cho phần cốt toái thân đi nữa, con cũng quyết kết cỏ ngậm vòng, chờ ngày đền đáp. Bà lại còn hứa rằng nếu ngày nào con còn thốn thiếu mà gởi thơ cho bà hay, thì bà cũng sẵn lòng gởi cho thêm nữa. Ôi! Thật là thiên cao địa hậu, muôn kiếp ghi xương. Nhưng con nghĩ vì nhà con thuở nay chưa hề có tới lui ơn nghĩa chi với nhà bà, nay bà vì quá thương cô Thu-Cúc mà ái ốc cập ô, gởi cho con một số bạc quá to, thì con đà quá vọng rồi; lẽ đâu con lại còn dám đèo bòng trông mong chi nữa mà làm rộn cho bà phải nhọc công tốn của nữa sao? Huống chi nay con học nghiệp cũng gần thành, tiền học-phí còn chừng năm ngàn quan là đủ, còn dư lại bảy ngàn, con sẽ tiện tặn mua sắm chút đỉnh sách vở cùng những vật cần dùng. Chỉ tồn lại bao nhiêu, con sẽ đem gởi cho nhà Băng, để dành làm lộ-phí nơi ngày con trở về cố quốc cũng đã đủ rồi. Vậy xin bà chớ có để ý cho con về sự tiền bạc nữa làm chi mà lao phiền quí-thể.
« Sau nữa con cũng xin bà đoái thương đứa sĩ cùng là một đứa con bất-tiếu Phan-quốc-Chấn nầy mà lưu tâm dọ giùm tin tức của hai ông lão nhà con, mạnh giỏi thể nào rồi cho con hay, thì con lại càng tạc dạ ghi xương, cám đội ơn bà vô cùng vô tận.— Luôn dịp con kính gởi một tấm tiện-ảnh của con đây, gọi là tỏ chút chơn-thành mà dâng cho bà để làm kỷ-niệm; cúi xin bà vui nạp cho con.
« Vắn tắc mấy lời thành thật, con kính chúc cho bà hai chữ vạn an.
« Phan-quốc-Chấn bá bái kính thơ. »
Phía sau rốt bức thơ, chàng lại gạnh thêm mấy hàng mà ngỏ cùng Thu-Cúc như vầy:
« Thu-Cúc quí-nương nhã giám,
« Mấy lời kim thạch, khắc cốt minh tâm,
« Đa tạ, đa tạ.
« Phan-quốc-Chấn bái. »
Viết xong, đọc đi đọc lại đôi ba lần rồi mới niêm phong đem bỏ vào thùng thơ mà gởi về Nam-kỳ cho bà Phủ.
Cách chừng một tháng ngoài thì bà Phủ đã được thơ, bà mở ra xem hết đầu đuôi, thấy lời nói của chàng vừa trung hậu, vừa khôn ngoan, thì bà đà nứt nở khen thầm, đến khi bà xem tới tấm ảnh của chàng, hình dung tuấn tú, diện mạo khôi ngô, thì bà lại càng mừng lắm. Bà nhơn nghĩ rằng: « Nhà mình thì giàu sang, mà chồng lại bất hạnh mất sớm, con cháu cũng không ngơ, hôm sớm một mình, vào ra tròi trọi, nếu ngày nào mà ta nhắm mắt đi rồi thì sự nghiệp nầy thiên hạ họ chia phay; thế thì có phước cũng như vô phước. Ngồi mà nghĩ lại thật ta cũng buồn cười cho những người bỏn sẻn làm lụng cả ngày, tay lấm chơn bùn mà ăn chẳng dám ăn, mặc không dám mặc, năm chí cuối chỉ cứ khu khu làm mọi giữ của cho đời, đến khi tới số vô thường rồi, thì đi lại cũng nắm hai bàn tay không. Chí như ta đây, vì nhà không con cái, đã cam phận thiệt thòi; có dè đâu mà trời chẳng phụ người hiền, khiến cho ta gặp được hai đứa con, tuy là gá nghĩa minh-linh, nhưng mà sánh với kẻ khác, dầu cho con ruột cũng không bì kịp, cả hai đều tánh tình hiếu thuận, cử chỉ khoan hòa; thật là quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân đã khéo sanh con mà cách dạy con cũng khéo. Nay hai chị em nó đã chịu tiếng làm con ta rồi, thì ta cũng nên chọn cho được một đôi giai-tế mà sánh với cặp nầy thì mới là thỏa mản. Mới đây ta gặp Hoàng-hữu-Chí thì ta đã chấm được một đứa rể hiền rồi, nay ta thấy thơ và hình của Phan-quốc-Chấn đây nữa thì cũng là xứng đáng; thật rõ ràng là một nhà con thảo rể hiền, song song hai cặp giai-nhân tài-tử. Nếu ngày nào mà đôi lứa ấy được thành, thì vợ chồng quan Huyện biết bao là toại chí; mà rồi ta đây cũng có người ỷ lại về sau, vì ta tuy không sanh mà có dưỡng, sanh dưỡng cũng đạo đồng; huống chi ta đã chẳng tiếc bạc ngàn mà tác thành cho bốn trẻ, thì có lý nào mà ngày sau chúng nó lại chẳng nghĩ ta, mai sau dầu bóng xế nhành dâu, ắt có kẻ quạt nồng đấp lạnh; thế thì từ đây ta đã khỏi lo đều tịch mịch rồi. »
Bà Phủ thì trong lòng thầm tính như vậy, còn Hoàng-hữu-Chí thì lại khác, vì chàng-ta thấy nhà bà giàu sang, sợ e nếu cưới con bà thì chi cho khỏi cô ấy ỷ của mà khinh thị mình, nên nhứt định không chịu cưới con nhà giàu-có.
Bữa kia, nhằm ngày chúa-nhựt, Hoàng-hữu-Chí đang ngồi trong nhà, xãy có một thầy thông-ngôn dây thép bước vào hai đàng bắt tay chào hỏi rồi mới ngồi lại chuyện vản với nhau. (Nguyên thầy thông nầy tên là Lê-xuân-Kỳ vẫn có quen với Hoàng-hữu-Chí).
Hoàng-hữu-Chí hỏi: « Hôm nay thầy đến đây mà chơi, hay là có việc chi chăng? »
Lê-xuân-Kỳ nói: Bữa nay nhơn rảnh tôi đi dạo chơi, tiện đường nên ghé thăm thầy và cũng có ý muốn hỏi thăm thầy một chuyện.
Hoàng. — Chuyện chi vậy?
Lê. — Tôi đổi lại đây đã hơn năm sáu năm rồi, tôi vẫn biết nhà bà Phủ Ân lắm, hồi tôi mới lại thì ông Phủ vẫn còn, tôi không thấy hai ông bà có con cái chi hết. Mà sao cách mấy tháng nay lại có hai cô thiếu-nữ nào đó, xinh đẹp vô cùng, đến ở trong nhà bà, mà lại kêu bà bằng má; thật cũng là kỳ!
Hoàng. — Đều ấy cũng chẳng lạ gì, vì tôi nghe hai cô ấy đều có học-thức cả, hoặc lúc thầy mới đổi lại thì hai cô ấy còn mắc ở học trong Nữ-học-đường Saigon, nên thầy không biết chăng.
Lê. — Không mà! Tôi có hỏi thăm mấy người gốc gát nhau rún tại đây, thì họ cũng đều không biết và cũng lấy làm lạ như tôi vậy hết nữa mà!!
Hoàng. — Uả! Sao thầy không hỏi họ lại cho kỷ thữ coi?
Lê. — Có chớ! Mà không ai hiểu hết, nên tôi mới lấy làm lạ chớ!! Lại mới hôm tháng trước đây, bà đi với một cô trong hai cô ấy đến nhà dây-thép mua một cái măn-đa tới mười hai ngàn quan mà gởi qua bên tây cho một cậu học-sanh nào đó tên là Phan-quốc-Chấn. Tôi có dọ kỷ thì cậu học-sanh ấy cũng không phải là con cháu chi của bà, thật là người dưng đặt sệt, không hiểu vì sao mà bà lại gởi tiền mà cho nhiều quá vậy?
Hoàng-hữu-Chí nghe nói tới tên Phan-quốc-Chấn thì biết là bạn-hữu của mình, song chẳng muốn cho Lê-xuân-Kỳ biết rõ làm chi; mà cũng không hiểu duyên cớ làm sao mà bà Phủ Ân lại gởi tiền cho ảnh. Bèn ngồi lặn thinh mà suy nghĩ hoài. Lê-xuân-Kỳ thấy vậy phát nghi, liền hỏi rằng: Phan-quốc-Chấn nào đó, anh có biết chăng?
Hoàng. — Biết chớ! Phan-quốc-Chấn thì tôi biết, còn tại sao mà bà Phủ Ân lại gởi tiền mà cho thì tôi không rõ.
Lê. — Tôi thấy thầy tới lui nơi nhà bà Phủ cũng thường mà thầy không hiểu gì hết hay sao?
Hoàng. — Mình là người có học, mắc mảng có giữ cái lễ nghĩa, cho nên việc nhà của người ta không lẽ mình đi tọc mạch mà hỏi tới làm chi. Mà mình cũng chẳng phải là bọn dê rừng, hễ thấy sắc đẹp thì mê, mà cũng không phải là bọn tham tiền, thấy người giàu-có mà muốn cưới con gái của người đặng ăn của nên hòng hỏi thăm cho kỷ; vì vậy nên tôi không biết được gì hết.
Lê-xuân-Kỳ nghe Hoàng-hữu-Chí nói mấy lời thì có ý thẹn thầm, liền đứng dậy từ giã ra về; vừa đi vừa lầm bầm rằng: « Mình tưởng nó là anh em, nên hễ có chuyện gì lạ thì nói cho nó nghe, nó lại kiếm đều mà nói đâm hông mình, làm hơi người liêm-sĩ, nói rằng không ham cưới con gái nhà giàu. Thằng phách thiệt, mi để mi coi ta. » Từ đó mới sanh dạ oán thù Hoàng-hữu-Chí.
Nguyên Hoàng-hữu-Chí vẫn biết Lê-xuân-Kỳ là một tay tham tài háo sắc, kiến lợi vong nghĩa; cho nên bề ngoài tuy quen mà bề trong thì không thích. Khi thấy Lê-xuân-Kỳ về rồi thì cười thầm, rồi bỏ qua, không thèm để ý tới. Nhơn nghĩ lại một mình rằng: « Vã Phan-quốc-Chấn với ta là anh em bạn thiết, tâm đầu ý hiệp, thương yêu nhau, tin cậy nhau, lúc ảnh còn ở bên nầy thì ảnh thường chơi bời chuyện vãn với ta, bà con cô bác của ảnh những ai, ta đều biết hết, mà không hề nghe ảnh nói tới tên bà Phủ Ân nào ở Tây-ninh bao giờ! Sao bà Phủ lại biết ảnh mà gởi bạc tiền cho ảnh? Hoặc là bà có bà con gì với ảnh hay sao mới vậy chớ! Thôi, để bữa nào ta giả đến thăm bà, rồi ta sẽ lần hồi dò la thử coi cho biết. »
Một bữa kia, nhằm ngày thứ năm, Hoàng-hữu-Chí nhơn nghỉ dạy, bèn đến thăm bà Phủ, rồi hỏi thăm qua việc Phan-quốc-Chấn rằng: « Cháu xin vô lễ mà hỏi thăm bà một việc, chẳng hay Phan-quốc-Chấn là người bà con hay là con cháu chi của bà? » Bà Phủ nghe hỏi như vậy cũng lấy làm lạ bèn hỏi lại rằng: Uả! Sao thầy biết Phan-quốc-Chấn?
Hoàng. — Dạ, bẩm bà, Phan-quốc-Chấn là anh em bạn thiết của cháu.
Bà Phủ. — Vậy sao? Cơ khổ dữ chưa! Vậy mà xưa này tôi có dè đâu. Thầy quen với nó hồi nào, đã lâu rồi hay mới?
Hoàng. — Bẩm bà, cháu với ảnh là bạn học với nhau từ hồi thuở nhỏ, thường tới lui chơi bời thân cận với nhau lắm; mới cách nhau là từ ngày ảnh đi du học bên Tây đây mà thôi. Còn ảnh là người chi của bà, xin bà cho cháu biết với.
Bà Phủ bèn đam hết các việc từ ngày mới gặp hai chị em Thu-Cúc cho đến khi gởi bạc qua bên Tây mà cho Phan-quốc-Chấn, đầu đuôi thuật rõ lại hết cho Hoàng-hữu-Chí nghe. Chừng ấy Hoàng-hữu-Chí mới biết hai chị em Thu-Cúc vẫn là con của một ông quan hưu-trí rất có thanh danh, và Thu-Cúc lại có hứa hôn với Phan-quốc-Chấn là bạn-hữu của mình; rủi vì hai nhà ngộ nạn, nên nỗi phiêu lưu, may gặp bà Phủ đem về nuôi mà làm con, đãi như con ruột, bà lại còn châu toàn cho đến Phan-quốc-Chấn đương ăn học bên Tây. Đến đây Hoàng-hữu-Chí mới biết bà Phủ là người nhân hậu, thế thượng vô song, thật rõ ràng là nữ trung quân-tử.
Từ đó chàng ta mới hết lòng kính phục bà và thường lân la tới lui thăm viếng; mà hễ Hoàng-hữu-Chí càng biết bà Phủ chừng nào thì càng kính, càng vì, càng khen, càng sợ.
Nhắc lại Lê-xuân-Kỳ, nhơn thấy bà Phủ đã giàu sang mà chẳng có con trai, duy có hai người con gái mà thôi, nếu cưới được con bà thì ngày sau ắt sẽ nhờ được. Bợm ta tính tới tính lui, (nhơn, chia, trừ, cọng gì đủ hết;) tính nát trong ruột rồi mới cậy mai đến nói.
Chẳng dè bà Phủ, nhơn vì Thu-Cúc đã có nơi rồi, còn Xuân-Lan thì bà lại nhứt định để gả cho Hoàng-hữu-Chí, nên bà kiếm chuyện mà từ rằng con bà còn nhỏ dại, bà chưa chịu gả cho ai, để bà dạy thêm nữ công nữ hạnh một đôi năm nữa rồi bà mới gả. Lê-xuân-Kỷ cậy mai đến nói đã đôi ba phen mà bà cũng khăn khắn một lời trước sau như một. Bợm ta tức giận vô cùng, phần thì thấy Hoàng-hữu-Chí thường hay lai vãng nhà bà, bèn sanh lòng đố kị, quyết toan mưu ám hại cho được mà rửa hờn. Nhưng bề trong thì vẫn cứ hầm hầm, còn bề ngoài thì lại làm màu tử tế; mỗi khi gặp Hoàng-hữu-Chí bất luận chỗ nào, bợm-ta cũng làm bộ chào hỏi vui cười, chuyện trò niềm nở lắm.
Thiệt là: Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Hết Phần 4
Đây là chương 4/7 của Lòng người nham hiểm. Lòng người nham hiểm là tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).
Chuyện đến đâu rồi?
Câu chuyện mở đầu với Hoàng-hữu-Chí gặp bà Phủ Ân ở núi Điện, rồi gia đình quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân lâm cảnh sa sút vì bảo lãnh nợ cho bạn, khiến hai con gái Thu-Cúc và Xuân-Lan phải tự lo cuộc sống. Bà Phủ nhận hai chị em làm con nuôi và gửi tiền sang Pháp cho Phan-quốc-Chấn, người có hôn ước với Thu-Cúc. Chấn nhận tiền, cảm kích bà và nhớ người yêu, còn Hoàng-hữu-Chí tránh cưới con nhà giàu. Lê-xuân-Kỳ bị từ chối khi cầu hôn Xuân-Lan, nên ngầm oán hận Chí.
Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Lòng người nham hiểm.