Phần 6

Hai mẹ con nghỉ ngơi tại đó cho đến ba giờ chiều, rồi mới giã từ vợ chồng ông Phán, bước lên ô-tô, bảo sốp-phơ chạy lên đường Legrand de la Liraye đặng ghé vào trường Nguyễn-phan-Long mà thăm em nàng là Nguyễn-trọng-Liêm trong giây phút rồi mới chạy thẳng về Tây-ninh.

Về tới nhà rồi Thu-Cúc bèn thuật việc nhờ mẹ dắc mình ghé nhà ông Phán-Ngãi, nên mới biết được tin tức của cha mình và luôn dịp mình đã gởi thơ ra Bắc mà thăm cha và cho cha mình biết các việc trong nầy rồi. Xuân-Lan nghe nói mừng quá đổi mừng.

Lần hồi ngày tháng như thoi, mới đó mà đã gần tới ngày Tòa xử.

Ngày kia Xuân-Lan đi chợ về, cũng vừa gặp Lê-xuân-Kỳ đương buổi đi làm việc. Hai đàng cũng niềm nở chào hỏi nhau như mội bữa. Xuân-Lan xem trước nhắm sau, liệu chừng chẳng thấy có ai, bèn nói nho nhỏ rằng: « Trưa nay đúng mười hai giờ, em xin mời thầy đến tại quán của dì Tư-Quăng cho em hỏi thăm thầy một chuyện. » Lê-xuân-Kỳ mừng quýnh dường như tiếp được đơn-chiếu của vua. Liền trả lời rằng: « Tôi rất sẵn lòng, xin cô đừng thất tín ». Xuân-Lan gặt đầu, miệng cười chúm chím, rồi đi thẳng về nhà. Lê-xuân-Kỳ lòng mừng khấp khởi, vào đến bu-rô (bureau) trọn một buổi sớm mai, không viết lách gì được hết, cứ dòm chừng đồng hồ hoài. Mà thật cái đồng hồ bữa ấy nó tệ quá! Độc thật! Ác thật!! Trông hoài mà sao không thấy tới giờ; nó làm như hình liệt máy rồi vậy, cứ đứng trân một chỗ, trông mãi mà cũng không thấy nó đi. Trông hoài trông hủy, trông hết sức trông, trong lòng nóng nảy, ngồi đứng không yên. Thình lình vùng nghe tiếng trống tan hầu, dường như tù được tin tha bổng. Lúc bấy giờ, Lê-xuân-Kỳ mừng quá đổi mừng, vội vàng xách nón ra về.

Về tới nhà không kịp thay đồ, cứ việc hối đứa ở dọn cơm, ăn hối ăn hả ba hột, rồi coi chừng đồng hồ, thấy đã mười một giờ ba khắc. Bèn sắm sửa đi liền, tuốt lại quán Tư-Quăng là nơi ước hẹn.

Còn Xuân-Lan khi cơm nước xong xuôi, chờ cho bà Phủ nghỉ trưa, mới nói cho Thu-Cúc hay, rồi lỏn ra ngã sau tuốt lại quán Tư-Quăng là chỗ đem mồi mà nhử cá.

Khi đến nơi vừa bước chơn vào, thấy Lê-xuân-Kỳ đã tới hồi nào, đương ngồi chờ đó. Xuân-Lan bước tới, xẻn lẻn trăm bề, trong lòng hồi hộp, chơn bước ngập ngừng; vì nàng là gái đương xuân, hễ thấy trai thì khép nép. Còn Lê-xuân-Kỳ mà thấy Xuân-Lan, thì nào có khác chi là mèo thấy mỡ; nhưng bỡi biết nàng là gái nết na đoan chánh, cho nên lòng cũng kiên dè, chớ không dám bốc hốt như con gái nhà tầm thường kia vậy. Bèn mở giọng rằng: « Bấy lâu tôi nghe cô là con nhà thi lễ, ngôn hạnh lưởng toàn, thật tôi lấy làm ái mộ, nên tôi muốn tính cuộc trăm năm, mới cậy người đến nói, không dè mà bà thân mẫu của cô lại không chịu gả, nên tôi lấy làm uất ức bấy lâu. Ai ngờ cô lại có lòng đoái tưởng, thì cái ơn tri-kỷ nầy tôi phải tạc dạ ghi xương, song tôi chẳng biết tính lẽ nào cho lưởng toàn kỳ mỷ; nhờ cô dạy bảo cho tôi. »

Xuân-Lan lúc bấy giờ, đương đối diện với cừu-nhân mà phải làm màu vui vẽ, thì trong lòng hổ thẹn, muôn đắng ngàn cay; thật rất khổ tâm thay! Song vì muốn cho nên việc, nên phải ráng bấm gan mà làm mặt dạn mày dày, dằng lòng nhẫn nhục, nét mặt tươi cười mà nói rằng: « Bấy lâu em vẫn biết thầy là người trung hậu quân-tử, phẩm hạnh đoan trang, thật em cũng hết lòng ái mộ; may sao thầy cũng có lòng thương tưởng cậy mai đến nói em đã đôi ba phen, ngặt vì bà Phủ là mẹ nuôi của em, ý không chịu gả, lại muốn để mà gả em cho Hoàng-hữu-Chí là một đứa xấc xược kiêu căng, thật là đáng ghét, nên em không biết liệu làm sao; vì em đã thọ ơn bà, em không dám cải. May đâu lại khiến cho nó làm đều nhục nhã mà phải bị tù, thật em mừng quá. Vậy nếu như thầy mà quả có lòng thương tưởng đến em, thì xin rán chịu phiền chờ đợi một ít lâu, chừng vài ba tháng nữa ông thân sanh của em ở Bắc mà về đây; chừng ấy nếu thầy cậy người đến nói, ắt ổng gả liền, vì bình sanh ổng cưng em lắm, hễ em ưng chỗ nào thì ổng cũng ưng theo chỗ nấy. Nay em mà ước hẹn với thầy đến đây là có ý để tỏ bày tâm-sự của em. Vậy nếu như thầy quả thật có lòng thương tưởng đến em mà tính cuộc trăm năm kết tóc, thì em xin thầy phải cho em một vật quí báu chi đặng để mà làm tin; được như vậy thì em mới tin hẵn lòng thầy, dầu cho đến mấy năm em cũng an lòng mà chờ đợi vậy. » Xuân-Lan và nói và cố ý ngó chừng chiếc nhẩn của Lê-xuân-Kỳ đương đeo trong tay mãi.

Lê-xuân-Kỳ hội ý, biết Xuân-Lan muốn chiếc nhẩn của mình, ngặt vì chiếc nhẩn ấy vốn của Cẩm-Lệ tặng cho, để làm dấu tích; không lẽ mà mình lại đam ra mà cho người khác. Ban đầu hãy còn dụ dự, tấn thối lưởng nan, sau bị thần ái-tình nó giục riết, phần thì tam hồn thất phách đã phưởng phất theo Xuân-Lan, cho nên bợm-ta chẳng còn chủ-trương gì nữa hết; liền cổi phứt chiếc nhẩn trong tay ra, trao cho Xuân-Lan mà nói rằng: « Nầy là cái núm ruột của tôi đây, ngặt vì tôi quá yêu cô, nên tôi phải cát ái, để tặng cho cô làm tin; mai sau dầu sở nguyện được thành, thì lời ước hẹn xin cô chớ phụ. » Xuân-Lan ngửa tay vói lấy chiếc nhẩn rồi nói rằng: « Như vầy thì em mới dám tin được lòng thầy, vậy từ đây, non xanh chẳng mất, nước biếc hãy còn; một tấm lòng son, ngàn năm chẳng lợt. Nhưng em còn một đều nầy nữa thật rất nên bó buộc, xin thầy dung thứ cho em; vã mẹ nuôi của em là bà Phủ, tánh tình gắt gớm lắm, em sợ e không được cùng thầy giáp mặt cho thường; đều ấy em xin thầy chớ ngại. Vậy em đi nảy giờ cũng đã lâu rồi, xin để cho em về, kẻo má em thức dậy ắt là khó lắm. » Lê-xuân-Kỳ coi lại đồng hồ, thấy đã hai giờ, cũng gần tới giờ phải đi làm việc rồi; cực chẳng đã nên phải đinh ninh vài lời, rồi phân tay nhau ai về nhà nấy. (Mưu kế của Xuân-Lan đến đây, thế là xong việc).

Lê-xuân-Kỳ về nhà lấy làm mãn nguyện, dương dương đắc ý, trông cho mau tới ngày tòa xử, đặng coi cho biết Hoàng-hữu-Chí bị án mấy năm; suy tới nghĩ lui, lấy làm đắc kế.

Còn Xuân-Lan khi về tới nhà thì bà Phủ thức dậy đã lâu, bèn hỏi nảng đi đâu, thì nảng kiếm đều che trước đậy sau ma nói cho qua chuyện. Tuy là khuất lấp được bà; nhưng mà, từ đó bà đã sanh lòng nghi ngại.

Đêm ấy Xuân-Lan chờ cho bà an giấc, rồi mới nhỏ to mà thuật lại hết cho chị nghe, lại lấy chiếc nhẩn ra mà khoe và lấy làm đắc kế. Thu-Cúc thấy kế đã thành trong lòng mừng lắm; song cũng dặn em phải cẫn thận cái mưu thần, mựa đừng sơ lậu.

Chẳng dè, cái mưu thì kín nhẹm, còn chuyện kia thì thúng khó úp voi, một miệng kín chín mười miệng hở. Từ ngày Xuân-Lan trò chuyện với Lê-xuân-Kỳ tại quán Tư-Quăng, thiên hạ đồn rùm, thấu tới tai bà Phủ. Bà liền tức giận bồi hồi, trách sao nảng lại tư tình với đứa nghịch. Nhưng mà, bà tuy giận vậy, song bà không la hét như kẻ tầm thường, cứ lấy đều đại nghĩa mà thống trách âm thầm vậy thôi, chớ người ngoài không ai nghe được. Thu-Cúc cũng giả ý rầy em, mắng nhiếc Xuân-Lan là đồ hư đồ chạ. Bà nghĩ tới chừng nào thì bà lại càng ứa gan chừng nấy, Bà bèn nhứt định đuổi nàng, chớ không thèm nuôi chứa trong nhà thứ đồ hư như vậy nữa.

LỜI BÀN: (Bà Phủ giận phải lắm, đuổi cũng phải lắm!

Điều thứ nhứt là con gái trong hạng danh-gia mà làm đều nhục nhã, hư danh mất nết; thật là tội ác quán dinh. Điều thứ hai là nhè đứa nghịch mà tư tình, rất phản đối với cái chủ nghĩa của bà; lẽ nào bà không giận? Bà giận phải! Bà giận nhằm!! Ai là người không giận?? — Nhưng nghĩ cho đến mấy cái đều đáng giận đó; rồi mới đáng sợ, đáng thương, đáng kính, đáng vì cô Xuân-Lan là một nàng con gái thiếu niên, đào tơ liểu yếu mà tâm chí rất cao, vì nghĩa cứu người mà phải liều danh-giá. Thật cũng khổ tâm thay! Mà cũng đáng thương đáng kính thay!!)

Khi Xuân-Lan bị bà Phủ đuổi rồi, thì cũng làm màu khóc lóc, gói áo quần, lạy mẹ và chị xách gói ra đi; bà Phủ cũng ngùi ngùi, song vì giận quá nên cũng làm lơ, để nảng đi cho rảnh.

Còn Xuân-Lan khi ra khỏi nhà rồi, chẳng cho ai biết là mình đi đâu, lén lén xách gói đi thẳng lại nhà bà Sáu-Thiện mà ở nhờ. Nàng lấy ra năm đồng bạc trao cho bà Sáu, bảo đi mua gạo và những đồ vặt cần dùng; nàng lại dặn dò đừng cho ai biết có nàng ở đậu trong nhà; ấy là nàng có ý sợ e cho Lê-xuân-Kỳ biết được rồi ăn quen mà mò tới.

Thật là: Cực kỳ khôn ngoan, cực kỳ tinh tế. (Nguyên bà Sáu-Thiện nầy, trước kia vẩn có ở nấu ăn cho bà Phủ, cho nên hai đàng mới biết được nhau. Bà nầy cũng có một đứa con gái chừng 15, 16 tuổi, chớ chẳng có con trai, ngày chí tối chỉ lo mua gánh bán bưng mà độ nhựt, có hai mẹ con hủ hỉ với nhau). Xuân-Lan ở đỡ tại nơi nhà nầy cũng là an phận.

Việc lôi thôi như vậy, lẽ nào Cẩm-Lệ lại chẳng hay, tiếng đồn nghe đã nhiều ngày, nàng-ta mới nổi ghen, bèn đón Lê-xuân-Kỳ mà hỏi. Còn Lê-xuân-Kỳ từ ngày mà được trò chuyện với Xuân-Lan rồi thì cặp con mắt của chàng, nhìn Cẩm-Lệ như nhìn Chung-vô-Diệm.

Ấy là: Tằng kinh Thương-hải nan vi thủy,

Trừ khước Vu-San bất thị vân.

Mà xưa nay những lời nói của đờn bà ghen tương, thì có lời nào là lời không xóc ốc? Bỡi vậy cho nên Lê-xuân-Kỳ cũng nổi giận, nói đi nói lại nhiều tiếng sân si; nhưng cũng còn dùng thẳng với nàng, nên phải kiếm lời chối ngược chối xuôi, rằng đó là lời đồn huyển. Tuy là chàng kiếm lời mà chối sướt cho qua; nhưng mà từ đó hai đàng đã sanh ác cảm rồi. Bỡi vậy cho nên Cẩm-Lệ về nhà càng nhớ tới chừng nào, thì lại càng oán hận Lê-xuân-Kỳ chừng nấy. Nàng nhơn đó mà nhớ lại cái đều tàn nhẫn của bợm-ta xúi mình âm mưu hảm hại, làm cho Hoàng-hữu-Chí phải bị giam từ ấy đến nay, thì cái lương-tâm của nàng lại càng hối hận vô cùng. Ngặt vì việc đã lỡ ra rồi, nên phải ôm ấp trong lòng, cũng chẳng dám nói ra cho ai biết.

Ngày giờ thấm thoát, Tòa Đại-hình hội xử đã gần kỳ. Cẩm-Lệ với Lê-xuân-Kỳ, Hương-quản, một tên lính tuần và tám tên dân làng thảy đều được trát Tòa đòi, đến ngày mười tám tháng mười tây, bảy giờ ban mai, phải tựu đến Tòa Đại-hình Saigon mà hầu về vụ xử Hoàng-hữu-Chí.

Lật bật đến ngày mười bảy, nội bọn đều quá giang xe ô-tô đưa bộ-hành đặng đi Saigon.

Khi bọn ấy lên xe vừa mới ngồi yên; bỗng thấy Xuân-Lan ở đâu cũng lơn tơn xách dù lên xe lựa chỗ ngồi ngang đối diện với Lê-xuân-Kỳ, đặng cố ý trừng liếc trêu bẹo mà khêu gan Cẩm-Lệ.

(Nguyên Cẩm-Lệ đã có lòng ghen sẵn, nay thấy tình-cảnh như vầy thì gan dạ nào mà chẳng nổi tam bành; ngặt bỡi trên xe vì có nhiều người, phần thì mình với Lê-xuân-Kỳ cũng không phải là thật vợ chồng, cho nên nàng-ta cảm nộ bất cảm ngôn; chỉ cứ háy nguýt nhúng trề mà chịu trận.

Khi xe đến Saigon rồi, Xuân-Lan liền kêu xe kéo bước lên, lại còn làm bộ nháy nhó Lê-xuân-Kỳ, dường như chĩ chỗ ở của mình mà dặn Lê-xuân-kỳ lại đó vậy; nàng cứ cố ý khêu gan Cẩm-Lệ cho thật nổi ôn, rồi mới hối xe kéo bảo đi, chỉ đường cho nó kéo lại nhà chị em bạn học của mình mà nghỉ đỡ một đêm, đặng mai sớm lên Tòa rồi sẽ ra tay thủ đoạn.

Thật báo hại cho Lê-xuân-Kỳ, hên lâu mới xuống Saigon, mà trọn một đêm ấy ngụ tại nhà Nam-Việt khách-lầu ở nơi đường Kinh-lấp, bị Cẩm-Lệ nổi ghen, cứ theo cằn nhằn mãi, lại thêm ràng rịt, theo giữ khít ghim, không đi đâu được hết.

Còn bà Phủ Ân việc thì việc của ai, mà tội nghiệp cho bà, khi nghe được tin ấy thì trong lòng bà hồi hộp, lo sợ chẳng cùng; không biết Hoàng-hữu-Chí sẽ được tha chăng; hay là bị kêu án ít hay nhiều, lâu hay mau, lo tới lo lui, lấy làm rối trí. Liền kêu Thu-Cúc, hối sửa san hành-lý cho sẵn sàng, rồi mướn một cái ô-tô, dặn Sốp-phơ sáng mai chừng lối ba giờ khuya, đem xe lại cho đúng giờ, đặng hai mẹ con bà đi xuống Saigon mà coi Tòa xử.

Sớm mai ngày mười tám, trong khoản từ sáu giờ rưởi cho tới bảy giờ, thiên hạ ồ ào, tựu đến trước cữa Tòa đặng chờ cho tới giờ mà coi xử; kẻ thì vì chồng, hoặc vì cha, người thì vì con, hoặc vì em vì cháu mà nô nứt trước cữa Tòa đông quá đổi đông, lủ bảy đoàn ba, rất nên náo nhiệt. Còn các quan Thầy-kiện thì hoặc ba ông một chòm, hoặc hai ông một cặp, đi tới đi lui, chuyện vãn cùng nhau mà chờ giờ xử.

Lúc ấy hai mẹ con bà Phủ còn ngồi trên ô-tô, đậu trước cữa Tòa; duy có bọn Cẩm-Lệ với Lê-xuân-Kỳ thì ngồi tại chỗ ghế xanh (banc) mà nghỉ cẳn. Còn một mình Xuân-Lan đã đến trước bao giờ, thấy bọn ấy ngồi tại ghế xanh, bèn làm bộ nháy nhó Lê-xuân-Kỳ, rồi cứ đi qua đi lại trước mặt Cẩm-Lệ, tay thì cầm chiếc nhẩn đưa lên đưa xuống mà coi, còn tay thì rút khăn mu-soa ra, làm bộ chùi lau cái hột xoàn cho sáng. Cẩm-Lệ xem thấy phát nghi, liền vói kéo bàn tay của Lê-xuân-Kỳ lên mà coi, không thấy đeo chiếc nhẫn. Máu ghen muốn trào, tay chơn run rẩy, liền hỏi một cách rất gắt gao rằng: « Vậy chớ chiếc nhẩn ở đâu? Xuống tới Saigon là chốn kinh-thành sao không đeo lại cất?? » Lê-xuân-Kỳ kiếm chuyện dấu quanh dấu quẩn mà dấu chẳng qua. Còn Xuân-Lan thấy vậy lại càng cứ theo trêu bẹo chiếc nhẩn trước mặt hoài. Cẩm-Lệ đã quả quyết của mình, bèn nổi giận xung thiên, liền chỉ Lê-xuân-Kỳ mà mắng rằng: « Mi là đồ khốn nạn, quả là loài nhơn diện thú tâm, để lát nữa đây rồi mi sẽ coi tao, muốn vậy tao cho vậy. » Lúc bấy giờ, Lê-xuân-Kỳ tưởng Cẩm-Lệ nổi máu ghen mà sanh hổn, lời hâm lát nữa đó là nói để lát nữa hầu Tòa rồi ra đường ắt sẽ chưởi mắng niếu kéo gì đây (Chẳng những là Lê-xuân-Kỳ tưởng vậy, cùng những người đi coi Tòa xử bữa ấy cũng đều tưởng vậy mà thôi! Tưởng khi chư khán-quan, ai đọc truyện nầy mà đọc tới đây, thế tất cũng là tưởng vậy chớ gì!)

Có dè đâu mà lại sẽ có một chuyện hy kỳ, thật rất phi thường, xuất nhơn ý ngoại.

Đúng tám giờ, nghe tiếng chuông reo, hai bên lính tập tra lưỡi-lê vào súng sáng lòa; thật là nghi vệ trên Tòa, ngày xử Đại-hình rất có vẽ oai nghiêm, những kẻ gian-manh xem thấy phải lạnh mình mà kinh hồn oản vía.

Cách chừng năm phút, lại nghe tiếng chuông reo. Thầy Đội hô bọt-tê-ấm vang rân, lính bồng súng lên nghe khua lốp rốp. Nội cả Tòa tự quan chí dân, thảy đều đứng dậy. Kế thấy ba ông quan Tòa áo đỏ bước ra ngồi giữa, bốn ông Hội-đồng thẩm-án ngồi kế hai bên; bên hữu là quan thay mặt cho quan Chưởng-lý đề-hình, bên tả thì quan Lục-sự. Ngay chính giữa có để một cái bàn, ấy là chỗ của một thầy Thông-ngôn với một quan Trưởng-tòa ngồi đó. Phía trước có hai giảy ghế, các quan Thầy-kiện phân ra ngồi hai bên. Còn mấy giảy ghế phía sau, bên tả thì phạm-nhơn, bên hữu thì người đi coi, ngồi chen lấn nhau chật nứt.

Khi ai nấy ngồi xuống lặng trang, xảy nghe thầy Thông cầm sổ hô danh từ người:

Chánh-phạm là Hoàng-hữu-Chí;

Thủ-cáo là Cẩm-Lệ;

Chứng là: Lê-xuân-Kỳ, Hương-quản, tên lính X. và tám tên dân làng, đều có đến hầu đủ mặt.

Kêu tên nội vụ xong rồi, Tòa liền dạy kêu chánh-phạm là Hoàng-hữu-Chí lên mà hỏi rằng: « Vậy chớ lời của chú khai tại phòng quan Bồi-thẩm đó có quả y như vậy chăng? Chú còn kêu nài gì nữa chăng?

Hoàng-hữu-Chí bẩm rằng: « Nội lời của tôi khai nơi phòng quan Bồi-thẩm là đủ việc của tôi, thật tôi chẳng còn kêu nài đều chi nữa hết; tôi chỉ xin quan lớn lấy lẽ công bình mà minh đoán cho tôi nhờ đó thôi. »

Quan Tòa liền dạy kêu thủ-cáo là Cẩm-Lệ lên mà hỏi.

Cẩm-Lệ ra đứng giữa Tòa mà hơi giận còn lừng, liền bước tới quì lạy quan Tòa mà bẩm rằng: « Bẩm lạy quan lớn, (và nói và chỉ tạc mặc Lê-xuân-Kỳ), vụ nầy đầu dây mối nhợ cũng tại thằng khốn nạn Lê-xuân-Kỳ nầy, nó đồ mưu thiết kế mà hảm hại người ngay; nó lại xúi giục tôi làm đều tàn nhẫn, táng tận thiên lương, phao vu cho người vô cô mà thọ khuất. Nay ra đến giữa Tòa rồi, thật cái lương-tâm của tôi nó cắn rứt, xốn xang khó chịu, nên tôi phải tỏ thật hết cho quan lớn nghe. » Rồi đó nàng bèn đọc hết, ba bảy hai mươi mốt, đầu đuôi gốc ngọn, nhứt nhứt mỗi việc khai rõ hết một hồi, rồi lại lạy quan Tòa mà nói rằng: « Lời thật tình tôi đã khai hết giữa Tòa, ngữa nhờ lượng quan trên, dầu giết dầu tha, tôi cũng cam bụng chịu. » Cẩm-Lệ khai dứt lời thì nội cả Tòa, tự quan chí dân, ai nấy đều sửng sốt. Quan Tòa liền dạy đòi Hoàng-hữu-Chí lên mà hỏi lại.

Hoàng-hữu-Chí bước lên cúi đầu chào bái các quan Tòa rồi bẩm rằng: « Những lời của cô Cẩm-Lệ khai giữa Tòa nảy giờ đó đều thật quả y như vậy, tôi chẳng có lời nào mà còn kêu nài chi hơn nữa, cúi xin quan lớn minh đoán cho tôi nhờ. » Lúc ấy các quan xem thấy Hoàng-hữu-Chí đương ở nơi một cái địa-vị rất khốn cùng, áo quần xơ xải mà mặt mày đầy đặn, diện mạo đáng thương; lại thêm lời nói rất chơn thành, thật rõ ràng là người trung hậu, bực hiền lương, bị phao vu nên nỗi. Liền dạy chàng lui xuống ngồi chờ, để hỏi hết chứng cớ xong rồi sẽ xử.

Đòi Lê-xuân-Kỳ lên đứng giữa Tòa, tuy là mặt một bộ đồ u-hoe hàng tít-so thẳng thớm, chơn mang giày ăn phón láng đen, thì mặt dầu; mà mặc dài cằm nhọn, gia dĩ trống ngực đánh lia, mặt mày tái ngắt (vì bợm-ta nghe lời khai của Cẩm-Lệ thì biết gian mưu bại lộ, nên sợ thất thanh. tài nào mà mặt mày không tái ngắt). Cho nên lúc nầy dầu mà bợm ta có cái lưỡi bén tợ gươm trường, miệng xuôi như suối chảy đi nữa, cũng khó đem ra mà dùng được; nên đứng nói lớ quớ một hồi, chừng rốt cuộc rồi cũng phải tàng đầu lộ vĩ.

Quan Tòa dạy bợm ta lui xuống, rồi đòi hết mấy tên chứng là Hương-quản, lính X. và tám tên dân làng lên mà hỏi.

Hết Phần 6

Đây là chương 6/7 của Lòng người nham hiểm. Lòng người nham hiểm là tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947).

Chuyện đến đâu rồi?

Câu chuyện xoay quanh hai chị em Thu-Cúc và Xuân-Lan, con gái quan Huyện Nguyễn-trọng-Luân, sau khi gia cảnh sa sút vì cha phải liên lụy nợ bạn và đi lánh nạn xa nhà. Họ gặp bà Phủ Ân, người nhận làm con nuôi, rồi Hoàng-hữu-Chí bị Lê-xuân-Kỳ và Cẩm-Lệ hãm hại oan. Nhờ mưu kế của Xuân-Lan, Cẩm-Lệ thú nhận tội, Chí được minh oan, còn Lê-xuân-Kỳ bị vạch mặt.

Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Lòng người nham hiểm.

Lòng người nham hiểmPhần 6
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 7 chương

  1. Phần 130 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Phần 28 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Phần 325 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Phần 413 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Phần 524 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Phần 617 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Phần 715 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)