Giá thú

Tuổi đính hôn.— Con trai con gái độ mười lăm, mười sáu tuổi trở lên, đã là tuần sắp sửa lấy vợ lấy chồng. Hai, ba mươi tuổi mới cưới gọi là muộn. Cũng có nhà cưới cho con từ năm mười hai, mười ba tuổi, có nhà ước hôn với nhau từ trong thai.

Trạc vợ chồng cứ hơn kém nhau một, hai tuổi là vừa đôi.

Giạm hỏi.— Trước hết kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau, mới mượn mối lái. Mối lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà trai mới đem cau đem trà đến giạm. Từ đó thì mồng năm, ngày Tết hoặc là ngày kỵ nhật nhà gái, người rể phải đưa đồ lễ vật đến mới là trọng thể. Cách ít lâu thì làm lễ ăn hỏi: nhà trai đem cau trà, lợn xôi đến nhà gái lễ gia tiên, có nhà dùng cách giản-tiện thì chỉ dùng cau, trà, mứt mà thôi. Ở Quảng-Nam thì trong lễ ăn hỏi thường lại thêm một đôi hoa tai vàng nữa.

Sêu.— Ăn hỏi rồi mới sêu. Sêu thì mùa nào thức ấy, như mùa vải thì sêu vải, mùa dưa thì sêu dưa, v.v...

Có nơi một năm chỉ sêu bốn mùa. Tháng ba sêu vải, tháng năm sêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng, tháng chín sêu hồng, cốm, gạo mới, chim ngói, tháng chạp thì sêu cam, mứt, bánh cốm. Đồ sêu nhà gái lấy một nửa, còn một nửa trả lại nhà trai, gọi là đồ lại mặt.

Cưới.— Sêu xong một năm hoặc nửa năm thì cưới, cũng có khi phải sêu hai ba năm mới được cưới. Nếu không sêu mà xin cưới thì là thiếu lễ, người ta chê cười, mà nhà gái không mấy người nghe.

Trao thơ, thách cưới.— Trước khi muốn cưới thì đôi bên nhà trai và nhà gái đều quang quẻ cả mới được nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà trai viết thư hỏi xem nhà gái ăn những lễ vật thế nào. Nhà gái muốn những thức gì thì viết thư trả lời nhà trai. Nhà trai liệu thể lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà trai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà trai bất đắc dĩ phải lo thì có khi vì thế mà hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau.

Đồ thách cưới thì đại để: Bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu trà, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng, nhẫn, hoa, hột, quần áo, chăn màn, và kèm theo thêm bao nhiêu bạc v.v...

Tùy nơi thành thị, quê mùa, nhà giàu nhà nghèo, ăn nhiều ăn ít, nhưng đại khái cũng trong những khoản ấy.

Đám cưới.— Về vùng nhà quê, ở cùng hương thôn với nhau, cưới thường đi về đêm. Lúc đi, phải chọn giờ hoàng đạo mới đi, và phải có một người đàn ông dễ tính ra đón ngõ trước, khi ra thì reo ầm cả lên rằng gặp trai, để cho mọi việc được dễ dàng mau mắn. Trong đám cưới có một ông già (kén ông nào hiền lành, mà vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu mới tốt) cầm một bó hương đi trước, rồi đến các người dẫn lễ, kẻ đội mâm cau, người khiêng lợn rượu, v.v... Chú rể thì khăn áo lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ, người chủ hôn nhà gái khấn lễ gia tiên rồi thì người rể vào lễ.

Tế tơ hồng.— Bày hương án ra sân, dùng lễ gà, xôi, trầu, rượu, tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.

Điển tế tơ hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi-cố, một bữa đi chơi trăng, gặp một ông già đang xe các sợi dây đỏ ở dưới bóng trăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng ta là Nguyệt-lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân-gian, ta đã buộc sợi dây nầy vào chân người nào với người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau. Vì thế ta cho việc vợ chồng là có ông Nguyệt-lão định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau.

Tế tơ hồng rồi thì người rể vào lạy cha mẹ vợ (tục ấy người theo lối văn minh bây giờ không chịu). Rồi đợi cho họ hàng ăn uống xong mới về.

Đưa dâu.— Sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà trai nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn, mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng nhau thì kẻ mừng tiền, người mừng trà, cau, hoặc là câu đối đỏ, v.v... Mà thường chỉ mừng bên nhà trai, chớ không mấy nơi mừng bên nhà gái, duy ở thành phố thì có mừng bên nhà gái, nhưng chỉ mừng cho người con gái hoặc một vài vuông nhiễu điều, hoặc may sẵn thành yếm mà thôi.

Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trước, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà trai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng mẹ chồng. Đoạn trở về mới lạy cha mẹ chồng, hoặc còn ông bà chồng cũng lạy. Ông bà cha mẹ chồng, mỗi người mừng cho một vài đồng bạc hoặc một vài chục.

Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần. Phần phải có xôi thịt, bánh trái, giò chả, cau chuối mới là cỗ cưới.

Ở thành phố thì thách cưới thường nặng hơn ở nhà quê, mà không có lệ đi ăn cưới đêm. Cưới ban ngày xong thì đón dâu về ngay. Trong khi cưới và khi đón dâu, hai ông già cầm hai cái lư hương ngồi xe che lọng xanh đi trước, rồi các kẻ dẫn lễ, nào người đội mâm cau trùm vải tây đỏ, nào kẻ khiêng chóe rượu, khiêng quả phù trang. Trước còn đi bộ, ít nay đám thì đi toàn xe cao su, đám nào khoe sĩ diện thì đi toàn xe song mã.

Lễ bái cũng như cách nhà quê. Ăn xong cũng có phần, phần có những bánh đường bánh ngọt, lại thêm một cái khăn mặt đỏ để gói phần. Sau lại có bánh dầy bánh chưng chia biếu những ngưòi quen thuộc nữa.

Phương thuật.— Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc tốt đẹp e thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào choàng áo, để có ai độc mồm độc miệng, thì đã có kim ấy trấn áp đi. Có nơi lại đặt hỏa lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, cũng là ý ấy. Cũng có nơi dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc, có nơi dâu mới đến cửa, một người lấy chày cối giã một lúc, tục ấy thì ngộ quá, không hiểu ý làm sao.

Đóng cửa, giăng dây.— Trong khi cưới và lúc đưa dâu, lại có tục đóng cửa, giăng dây. Lúc nhà trai đem lễ cưới đến nhà gái thì bên nhà gái, hoặc trẻ con, hoặc đứa đầy tớ, đóng cửa không cho vào. Nhà trai phải cho chúng nó dăm ba hào, một đồng bạc thì chúng nó mới mở cửa. Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải, lụa đỏ giăng ngang giữa đường, đám cưới đi đến, phải nói tử tế mà cho chúng nó vài hào thì chúng nó mới cởi dây cho đi. Chỗ thì chúng nó bày hương án, chờ đi đến, đốt một bánh pháo ăn mừng, chỗ ấy phải đãi họ một vài đồng mới xuôi. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho.

Tục giăng dây nầy đã có lâu. Về đời Huyền-Tôn, người Đường-thiệu đã dâng biểu nói rằng: ngày người ta đón dâu, những kẻ hèn hạ thường hay lấy xe ngăn trở đường đi, đòi cỗ bàn ăn uống. Tục ấy mỗi ngày một thịnh, đến nỗi các đám cưới của nhà Vương công, chúng nó cũng tụ hợp đàn lũ, che lấp đường đi, làm cho lôi thôi thì giờ, để đòi tiền của, thành ra tiền giăng dây nặng hơn tiền cưới, xin cấm hết đi mới được, xem vậy thì tức là tục giăng dây của ta bây giờ.

Giao duyên.— Tối hôm cưới, người chồng lấy trầu trăm (trầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn. Vợ trải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại vái một vái. Tục ấy nhà đại gia mới dùng đến, nhà thường thì không mấy người dùng.

Lại mặt.— Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm lễ chè xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt, chữ gọi là tứ hỉ.

Tục Mường.— Tục cưới về Mường, Mán rất nực cười. Khi cưới, nhà gái nấu một nồi nước bẩn thỉu, cả nhà khóc lóc, chờ khi họ hàng đưa dâu ra cửa thì lấy gạo muối ném theo và rẩy nước bẩn ấy, hễ ai chạy không mau thì bẩn cả quần áo.

Tục cưới của ta, cũng là noi theo tục Tàu. Tàu có sáu lễ: nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp tệ, thỉnh kỳ, thân-nghênh.

Có chữ rằng: « Lục lễ bất bị, trinh nữ bất hành » nghĩa là sáu lễ không đủ, thì người gái trinh không đi. Sáu lễ ấy đại khái như lễ giạm, lễ hỏi, lễ sêu, lễ cưới của ta, v.v...

Xét trong tục cưới xin của ta, có mấy điều trái với cách văn minh, nên đổi:

Một là lấy vợ lấy chồng sớm quá. Tục Âu-Châu trai, gái đúng tuổi khôn lớn, ít ra cũng mười tám, hai mươi tuổi trở lên mới dựng vợ gả chồng. Ta thì thường cho sự có con cháu sớm là nhà có phúc, cho nên lắm nhà con mới mười bốn, mười lăm tuổi, huyết khí chưa được sung túc, đã có vợ có chồng, thậm chí có đứa con gái hỉ mũi chưa sạch đã đi về làm dâu. Vì thế sinh con đẻ cái ra nhiều đứa còm cõi ngẳng nghiu, gây nên một giống nòi yếu ớt. Vả lại lúc tuổi trẻ, còn đang là tuổi học hành, tìm kế lập thân, vậy mà đã vướng víu về đường vợ con, thì còn làm gì được nữa, thành ra lại làm cho hư cả người.

Hai là trai gái không được tự do hôn phối. Tục Âu-Châu trai gái phải biết nhau trước, cha mẹ cho tự ý kén chọn, có thuận tình thì cha mẹ mới gả. Ở ta chỉ cứ tùy ý cha mẹ, tìm nơi xứng đáng thì gả, dẫu con không bằng lòng cũng nài ép cho phải lấy, mà thường nhiều khi cha mẹ gả bán lẫn cho nhau cũng nên. Vì vậy lắm khi vợ chồng lấy nhau rồi, sinh ra chê bai nhau, oán ghét nhau, không được hòa thuận, đến nỗi lìa nhau, mà dẫu có e sợ danh tiếng, gượng ở với nhau, thì cũng sầu não trong lòng, chẳng những là công việc trong nhà lủng củng chẳng ra gì, mà đường sinh dục cũng không được tốt.

Ba là tục thách cưới. Vợ chồng lấy nhau là một nghĩa vụ, trai phải có vợ, gái phải có chồng, đôi bên đều có tư ích lẫn cho nhau, chớ không phải lợi riêng cho bên nào cả. Vậy mà ta lắm người coi sự gả chồng cho con như là bán con, trừ ra sự may mặc sắm sửa đã bắt nhà trai phải lo, lại thách đến tiền đến bạc. Lắm người nghiệt quá, không đem đủ tiền không nghe, làm cho sui gia sinh oán ghét nhau cũng vì đó. Vả lại chẹt người ta quá, người ta cũng phải miễn cưỡng đi vay mượn mà lo cho xong việc, rồi thì cái nợ ấy, có khi con mình về nhà chồng, lại phải nai lưng cố sức ra làm ăn để trả, thế có phải là mình vụ hư danh, hoa hòe một lúc, mà để khổ cho con không?

Cứ như phép Châu-Lễ: « Phàm lấy vợ, dẫn lễ cưới, lụa tốt không được quá năm lượng ». Năm lượng nghĩa là mười cuốn lụa. Ông Châu-Tử có luận rằng: « Lễ cưới ngày xưa giản dị như thế, đến đời sau tục dân ngoa ngoát, thường thường giảng đến cái lễ của cải đòi tiền đòi bạc. Các nhà hào phẩm, lại muốn trang sức thể diện, đòi vàng lụa cho nhiều, không đủ thì trách móc lẫn nhau, đó là trái với lễ.

Thiết tưởng sự trai gái lấy nhau, trước hết phải chờ cho đúng tuổi khôn lớn, biết cách lập thân, rồi hãy cho lấy nhau, mà lấy nhau thì mặc cho tùy ý kén chọn, cha mẹ không nên nài ép lòng con, trừ ra con không biết đường kén, lấy phải kẻ chẳng ra gì thì cũng nên ngăn cấm lại mà thôi. Còn như đôi bên đã tốt duyên phải lứa, đã thuận tình nhau thì không nên quản gì giàu với nghèo, tùy thế mà khu xử, miễn là phải thế thì thôi, chớ nên lấy sĩ diện mà hà cầu khắc trách chi nhau quá.

Hết Giá thú

Đây là chương 14/99 của Việt Nam phong tục. Việt Nam phong tục là công trình khảo cứu của Phan Kế Bính (1875–1921).

Chuyện đến đâu rồi?

Tập sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính trình bày phong tục Việt từ gia tộc đến làng xóm, bắt đầu từ chuyện con cái, anh em, thân thuộc và việc thờ phụng tổ tiên. Sách đi sâu vào đạo hiếu, lễ mừng thọ, sinh nhật và việc phong tặng tổ tiên, rồi bàn về tang ma và tục cải táng. Đến chương 14, tác giả kể các bước lễ cưới: giạm hỏi, ăn hỏi, sêu, thách cưới, đưa dâu, lễ lại mặt. Ông phê phán việc cưới sớm, thiếu tự do hôn nhân và thách cưới nặng nề, rồi khuyên cha mẹ nên tôn trọng lựa chọn của con.

Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Việt Nam phong tục.

Việt Nam phong tụcGiá thú
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 99 chương

  1. Tựa3 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Cha mẹ với con9 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Anh chị em5 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Thân thuộc5 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Phụng sự tổ tôn6 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Đạo làm con3 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Thượng thọ1 phút đọc · Lồng tiếng
  8. Sinh nhật1 phút đọc · Lồng tiếng
  9. Thần hoàng2 phút đọc · Lồng tiếng
  10. Tang ma14 phút đọc · Lồng tiếng
  11. Cải táng4 phút đọc · Lồng tiếng
  12. Kỵ nhật3 phút đọc · Lồng tiếng
  13. Tử thời tiết lạp18 phút đọc · Lồng tiếng
  14. Giá thú11 phút đọc · Lồng tiếng
  15. Vợ chồng10 phút đọc · Lồng tiếng
  16. Vợ lẽ5 phút đọc · Lồng tiếng
  17. Cầu tự3 phút đọc · Lồng tiếng
  18. Nuôi nghĩa tử3 phút đọc · Lồng tiếng
  19. Sự thần8 phút đọc · Lồng tiếng
  20. Việc tế tự9 phút đọc · Lồng tiếng
  21. Nhập tịch7 phút đọc · Lồng tiếng
  22. Đại-hội26 phút đọc · Lồng tiếng
  23. Lễ kỳ an6 phút đọc · Lồng tiếng
  24. Chùa chiền7 phút đọc · Lồng tiếng
  25. Văn-từ, văn-chỉ4 phút đọc · Lồng tiếng
  26. Kỵ hậu4 phút đọc · Lồng tiếng
  27. Công quán2 phút đọc · Lồng tiếng
  28. Am chúng sinh5 phút đọc · Lồng tiếng
  29. Ngôi thứ6 phút đọc · Lồng tiếng
  30. Viên chức7 phút đọc · Lồng tiếng
  31. Hương ẩm6 phút đọc · Lồng tiếng
  32. Lễ khao vọng3 phút đọc · Lồng tiếng
  33. Lệ kính biếu4 phút đọc · Lồng tiếng
  34. Đăng khoa4 phút đọc · Lồng tiếng
  35. Các sắc phong tặng2 phút đọc · Lồng tiếng
  36. Bầu cử lý dịch8 phút đọc · Lồng tiếng
  37. Thuế khóa8 phút đọc · Lồng tiếng
  38. Binh lính4 phút đọc · Lồng tiếng
  39. Tạp dịch2 phút đọc · Lồng tiếng
  40. Hương học7 phút đọc · Lồng tiếng
  41. Khoán-ước8 phút đọc · Lồng tiếng
  42. Việc hiếu5 phút đọc · Lồng tiếng
  43. Việc hỉ2 phút đọc · Lồng tiếng
  44. Lệ khánh điếu5 phút đọc · Lồng tiếng
  45. Vợ chồng ly dị2 phút đọc · Lồng tiếng
  46. Tài chánh3 phút đọc · Lồng tiếng
  47. Nghĩa sương9 phút đọc · Lồng tiếng
  48. Hội chư bà4 phút đọc · Lồng tiếng
  49. Hội tư cấp6 phút đọc · Lồng tiếng
  50. Hội bách nghệ2 phút đọc · Lồng tiếng
  51. Tuần đinh3 phút đọc · Lồng tiếng
  52. Đạc phu1 phút đọc · Lồng tiếng
  53. Vua tôi6 phút đọc · Lồng tiếng
  54. Thầy trò4 phút đọc · Lồng tiếng
  55. Bầu bạn5 phút đọc · Lồng tiếng
  56. Quan dân5 phút đọc · Lồng tiếng
  57. Chủ, khách3 phút đọc · Lồng tiếng
  58. Chủ nhà, người ở2 phút đọc · Lồng tiếng
  59. Dâu gia2 phút đọc · Lồng tiếng
  60. Nho giáo9 phút đọc · Lồng tiếng
  61. Phật giáo10 phút đọc · Lồng tiếng
  62. Lão tử giáo5 phút đọc · Lồng tiếng
  63. Gia tô giáo8 phút đọc · Lồng tiếng
  64. Chính trị8 phút đọc · Lồng tiếng
  65. Văn chương19 phút đọc · Lồng tiếng
  66. Khoa cử10 phút đọc · Lồng tiếng
  67. Võ nghệ7 phút đọc · Lồng tiếng
  68. Nghề làm ruộng5 phút đọc · Lồng tiếng
  69. Nghề nuôi tằm5 phút đọc · Lồng tiếng
  70. Nghề bách công5 phút đọc · Lồng tiếng
  71. Nghề buôn bán6 phút đọc · Lồng tiếng
  72. Y dược8 phút đọc · Lồng tiếng
  73. Bốc phệ10 phút đọc · Lồng tiếng
  74. Địa lý8 phút đọc · Lồng tiếng
  75. Toán số8 phút đọc · Lồng tiếng
  76. Tướng thuật11 phút đọc · Lồng tiếng
  77. Phù thủy4 phút đọc · Lồng tiếng
  78. Thanh đồng6 phút đọc · Lồng tiếng
  79. Đồng cốt5 phút đọc · Lồng tiếng
  80. Cô hồn3 phút đọc · Lồng tiếng
  81. Các cách chiêm đoán12 phút đọc · Lồng tiếng
  82. Các cách chiêm nghiệm5 phút đọc · Lồng tiếng
  83. Xem ngày kén giờ6 phút đọc · Lồng tiếng
  84. Các việc kiêng kỵ4 phút đọc · Lồng tiếng
  85. Các phương thuật5 phút đọc · Lồng tiếng
  86. Tính tình8 phút đọc · Lồng tiếng
  87. Thanh âm ngôn ngữ5 phút đọc · Lồng tiếng
  88. Cách ẩm thực6 phút đọc · Lồng tiếng
  89. Cách phục sức6 phút đọc · Lồng tiếng
  90. Cư sở5 phút đọc · Lồng tiếng
  91. Để tóc3 phút đọc · Lồng tiếng
  92. Nhuộm răng2 phút đọc · Lồng tiếng
  93. Ăn trầu4 phút đọc · Lồng tiếng
  94. Hút thuốc lào3 phút đọc · Lồng tiếng
  95. Hát xẩm1 phút đọc · Lồng tiếng
  96. Hát ả đào6 phút đọc · Lồng tiếng
  97. Hát tuồng4 phút đọc · Lồng tiếng
  98. Cuộc tiêu khiển7 phút đọc · Lồng tiếng
  99. Cuộc cờ bạc6 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)