Nghĩa sương

Nghĩa sương là một kho chứa thóc dân thôn đề phòng khi mất mùa đói kém thì đem thóc ấy mà chẩn cấp cho những người nghèo.

Năm Tự-Đức thứ mười tám triều-đình chuẩn cho các thôn xã, mỗi làng đặt một nghĩa sương, chọn lấy một người nào công liêm và có gia tư vật lực ở trong làng cho làm chủ-thủ chủ-bộ để giữ kho ấy, và đặt ra mấy tên tuần phu để coi việc canh giờ.

Cứ mỗi mùa lúa gặt rồi chia làm bốn mươi phần, lấy ra một phần. Trong một phần ấy lại chia làm ba phần, cho tuần phu một phần, còn hai phần để chứa vào kho nghĩa sương. Lại khuyên dỗ những người hào phú trong làng bỏ tiền hoặc thóc cho nghĩa sương vay, người chủ thủ làm tờ biên nhận lấy tiền thóc ấy tùy nghi sanh lợi. Ba năm thì phải trả tiền thóc cho người tài chủ. Còn thóc ở kho thì để dành, năm nào đói mới đem ra cấp phát.

Lại có lệ định: Xã nào có ruộng công, trích lấy ra một phần mười, như một ngàn mẫu thì lấy ra một trăm mẫu, ba bốn trăm mẫu thì mỗi trăm lấy ra mười mẫu để làm nghĩa sương, cả làng phải hợp sức mà làm ruộng ấy. Trong làng nếu có ai hảo tâm mà quyên vào bao nhiêu cũng biên vào sổ ấy, lập riêng một cái kho để chứa thóc. Trong làng phải kén lấy một người nào có phẩm hạnh và là người vật lực làm hương chánh do tỉnh cấp bằng cho được trang trọng sự thể. Khi nào thóc cao thì bỏ thóc ra bán, lúc nào hạ thì lại đong vào. Lại cho vay lấy lời thêm vào.

Mỗi một năm thu được bao nhiêu, nuôi binh lính, cấp cho kẻ nghèo đói hết bao nhiêu, cả làng phải hội tính mà lập ra hai quyển sổ rồi đem nộp trình quan tỉnh. Quan tỉnh phê chữ một quyển giao cho hương chính giữ lấy, còn một quyển để lại tỉnh đường lưu chiếu. Gặp năm nào mất mùa, thóc của làng nào lại cấp cho dân làng ấy để dân khỏi phải chết đói.

Nếu có ai xâm phạm đến thóc ấy, cho phép người làng đi cáo quan, quan sẽ tịch-sản người xâm phạm mà bắt phải bồi thường.

Làng nào không có ruộng công mà người trong làng biết xướng xuất lên lập được nghĩa sương, bất cứ đàn ông đàn bà, ai quyên được ít nhiều cũng chứa vào kho cho vay lấy lãi, thì cũng chiếu như các dân xã có ruộng công mà làm.

Vận trời có lúc thường lúc biến người ta phải sớm liệu một cách dự bị mới được. Mà trong hương thôn lại có nghĩa tương bảo tương trợ, tật bệnh tương phù trì, nghĩa là phải giúp đỡ lẫn nhau, khi tật bệnh phải phù trì nhau, đó cũng là một nghĩa vụ ở trong cách đoàn thể.

Nhà nước trù liệu đến cách ấy mà định lệ cho dân lập nghĩa sương, thực là một kế sách cứu trợ rất hay. Dân xã tuân hành được như thế thì dẫu bất hạnh gặp phải năm tiêu-khô bạch-lãng cũng không lo gì. Mà may ra thường năm bình yên vô sự, thì chẳng mấy lúc xã có được cái vốn to, muốn sửa sang theo cách văn minh cũng dễ.

Song phép thì hay mà cách thi hành thì khó mà tránh được những tệ đoan. Nào là người thừa hành gian phi hà lạm, nào là dân xã vay không trả nổi, thiếu nợ lôi thôi, nào là người hương chính bất công, dở ngón bòn khoét. Triều đình tuy có cách thưởng phạt, giữ gìn của dân, mà giữ sao cho xuể được khỏi mọt. Té ra cái chính sách rất hay của công dân mà lại thành một mối lợi to cho mấy người hào trưởng.

Trong cuốn tục lệ cải lương của làng Đề-Câu, cách thức lập nghĩa sương tưởng cũng chắc chắn, ai có lòng về hương chính cũng nên xem đó rồi châm chước với tục riêng của làng mình mà làm, có lẽ cũng ích lợi cho dân lắm.

Trích lục mấy điều ra sau này:

ĐIỀU ƯỚC NGHĨA SƯƠNG

Điều thứ nhất.— Nghĩa sương của bản xã chung có bốn thôn:

1) Hạ thôn, 2) Thượng thôn, 3) Châu mỹ, 4) Điện tiền. Cứ chiếu điền bạ ra, ai có cày cấy ruộng công hay ruộng tư trong bản xã phải nộp vào nghĩa sương mỗi một sào một đấu thóc, mỗi mẫu mười đấu, mỗi năm thu một lần (đấu thì cứ cân trung bình, một cân sáu lạng vào một đấu).

Thóc nghĩa sương chỉ để dùng về việc công nghĩa trong dân xã như là năm mất mùa đói kém thì chẩn thải, khi dịch lệ mua thóc phát cho người nghèo. Bấy giờ tùy của với người ít nhiều mà chi độ, nhưng số thóc ở nghĩa sương ba phần phải lưu lại một phần để dành, trừ hai việc ấy ra thì không được tiêu về việc khác.

Điều thứ hai.— Đặt một người sương chính, bốn người thủ bạ và một người thủ quĩ, để trông nom biên chép và giữ thóc nghĩa sương. Chức sương chính phải chọn người công liêm, tùy dân xã xem ai đáng thì bầu. Chức thủ bạ phải kén người cẩn thận thì cả bốn thôn, mỗi thôn phải bầu một người. Chức thủ quĩ phải chọn người thông minh, có vật lực.

Dân bầu sáu người chức dịch ấy để thay mặt dân xã coi việc nghĩa sương, thì cứ hai năm, dân xã họp bầu lại một lần.

Điều thứ ba.— Cứ vụ đông thu hoạch xong rồi, thì thu thóc nghĩa sương. Cả bốn thôn, ruộng thôn nào thì thôn ấy cứ chiếu điền bạ mà giao cho thủ bạ thu lấy thóc, cứ đấu nghĩa sương theo lệ mà thu, thu thiếu thì phải bồi, thu quá lệ thì phải lỗi, được bao nhiêu ghi vào sổ bản thôn cho minh bạch, rồi giao thóc cho thủ quĩ giữ. Thủ quĩ nhận thóc thì phải biên vào sổ chính, và ký biên nhận vào các sổ của các thôn người ta giao thóc cho, để rồi sau đối sổ cho dễ tính toán.

Thóc nghĩa sương chỉ để thủ quĩ giữ đến bốn trăm thúng trở lại mà thôi (hai mươi đấu vào một thúng). Còn ngoài số ấy trở lên, thì dân xã sẽ họp làm giấy giao thủ quĩ bán thóc lấy tiền đem gửi ngân hàng hay là kho tỉnh, bao giờ dân xã cần đến tiền, thì lại họp làm giấy giao cho thủ quĩ lãnh bạc về để chi dùng.

Điều thứ bốn.— Khi nào phải chi tiêu về hai việc như đã nói trên điều thứ nhất và những khoản tiêu vặt như là: mua sổ sách, giấy bút, các đồ dùng khác, thuê người giúp đỡ cùng là chi phí về những ngày dân xã họp thì bốn người thủ bạ làm giấy, kể ra từng khoản cho minh bạch, lấy chữ ký sương chính, đem thủ quĩ lãnh thóc mà chi dùng.

Thủ quĩ xem giấy xét thực, có đủ chữ ký bốn thủ bạ và sương chính, khai chi tiêu về nghĩa sương thì mới được phát. Nếu mà sai thì thủ quĩ phải đền.

Còn như sương chính và bốn thủ bạ, nếu không phải chi tiêu về việc nghĩa sương mà mạo khai mạo ký thì phải đền, mà dân xã sẽ lại nghị phạt nữa.

Sáu người chức dịch, chỉ được làm giấy phát thóc từ một đấu đến hai trăm đấu mà thôi, ngoài số ấy trở lên thì phải có cả dân xã mới được. Những kỳ họp thì sương chính và thủ bạ phải có giấy thông báo dân xã trước mấy hôm, kê ra những việc gì sẽ bàn định và họp vào ngày nào.

Điều thứ năm.— Sổ thu phát và thóc nghĩa sương, mỗi năm phải khám hai lần, bất kỳ lúc nào dân xã bầu hai người đến khám, hễ thiếu số hay là mục nát thì thủ quĩ phải bồi và dân xã sẽ nghị phạt nữa.

Cứ mỗi năm một lần, dân xã họp để bàn định và tính sổ nghĩa sương, hoặc khi có việc gì cần thì sáu người chủ dịch phải thông báo để dân xã họp lại mà bàn định.

Lệ họp từ các cụ đến dân đinh mười tám tuổi đều được dự bàn, khi bàn định việc gì, trong những người bàn, nhiều người thuận thì được. Ai muốn bàn nói việc gì, cứ ngày dân xã họp thì đến mà bàn nói, nếu ngày ấy không đến thì sau không được nói lại.

Trong khi dân xã họp việc nghĩa sương chỉ được bàn định việc nghĩa sương cho có ích lợi mà thôi, còn tịnh cấm không ai được nói chuyện khác và ăn uống rượu chè.

Điều thứ sáu.— Công việc nghĩa sương hệ trọng và khó nhọc, cho nên dân xã phải bầu những ông công liêm tử tế làm việc giúp dân. Vậy mỗi năm một lần, cứ đến tết lớn, lấy thóc biếu những ông chức dịch như thế này:

Biếu ông sương chính sáu mươi đấu, bốn ông thủ bạ và ông thủ quĩ mỗi ông bốn mươi đấu.

Ông thủ quĩ lúc thu phát phải cho công minh, không được thu đầy phát vơi, nếu mà có tai tiếng thì ông thủ quĩ có cữu.

Còn việc giữ thóc thường phải phơi phóng khó nhọc, thiếu lại phải đền, nên phụ cấp ông thủ quĩ mỗi năm là bao nhiêu, để phụ vào chỗ hao hụt, nhưng hãy để bao giờ công việc làm đến thì mới biết chừng sẽ định được lệ.

Điều ước này viết ra làm bảy bản, một bản lưu tại tòa công-sứ, một bản lưu tại tòa quan Tổng đốc, một bản lưu tại Phủ nha, còn bốn bản thì mỗi thôn giữ một bản làm bằng. Bản viết bằng chữ nôm có cả dân xã ký kết, lý trưởng áp triện và có chữ quan duyệt y.

Lục qua mấy điều trên này, chẳng qua để làm mẫu cho mấy làng khác. Nhưng mỗi nơi có một tình thế riêng, nếu xã nào muốn lập nghĩa sương thì cũng nên châm chước, tùy tiện mà gia giảm, miễn là hợp với tục dân mình, bất tất phải câu nệ thái quá. Mà nếu làng nào có lập ra được cái qui trình chắc chắn hơn thì lại càng hay lắm.

Hết Nghĩa sương

Đây là chương 47/99 của Việt Nam phong tục. Việt Nam phong tục là công trình khảo cứu của Phan Kế Bính (1875–1921).

Chuyện đến đâu rồi?

Đây là công trình khảo cứu của Phan Kế Bính về phong tục Việt Nam đầu thế kỷ XX, đi theo thứ tự từ gia đình đến làng xã. Người đọc đã theo dõi các tục từ sinh con, anh em, thờ tự tổ tiên, cưới hỏi, tang ma đến hội hè, đình đám, thuế khóa, binh lính và tạp dịch. Đến chương 47, tác giả trình bày nghĩa sương, kho thóc chung của làng dùng để cứu đói khi mất mùa, cùng những lạm dụng có thể xảy ra và điều ước mẫu của làng Đề Câu.

Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Việt Nam phong tục.

Việt Nam phong tụcNghĩa sương
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 99 chương

  1. Tựa3 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Cha mẹ với con9 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Anh chị em5 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Thân thuộc5 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Phụng sự tổ tôn6 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Đạo làm con3 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Thượng thọ1 phút đọc · Lồng tiếng
  8. Sinh nhật1 phút đọc · Lồng tiếng
  9. Thần hoàng2 phút đọc · Lồng tiếng
  10. Tang ma14 phút đọc · Lồng tiếng
  11. Cải táng4 phút đọc · Lồng tiếng
  12. Kỵ nhật3 phút đọc · Lồng tiếng
  13. Tử thời tiết lạp18 phút đọc · Lồng tiếng
  14. Giá thú11 phút đọc · Lồng tiếng
  15. Vợ chồng10 phút đọc · Lồng tiếng
  16. Vợ lẽ5 phút đọc · Lồng tiếng
  17. Cầu tự3 phút đọc · Lồng tiếng
  18. Nuôi nghĩa tử3 phút đọc · Lồng tiếng
  19. Sự thần8 phút đọc · Lồng tiếng
  20. Việc tế tự9 phút đọc · Lồng tiếng
  21. Nhập tịch7 phút đọc · Lồng tiếng
  22. Đại-hội26 phút đọc · Lồng tiếng
  23. Lễ kỳ an6 phút đọc · Lồng tiếng
  24. Chùa chiền7 phút đọc · Lồng tiếng
  25. Văn-từ, văn-chỉ4 phút đọc · Lồng tiếng
  26. Kỵ hậu4 phút đọc · Lồng tiếng
  27. Công quán2 phút đọc · Lồng tiếng
  28. Am chúng sinh5 phút đọc · Lồng tiếng
  29. Ngôi thứ6 phút đọc · Lồng tiếng
  30. Viên chức7 phút đọc · Lồng tiếng
  31. Hương ẩm6 phút đọc · Lồng tiếng
  32. Lễ khao vọng3 phút đọc · Lồng tiếng
  33. Lệ kính biếu4 phút đọc · Lồng tiếng
  34. Đăng khoa4 phút đọc · Lồng tiếng
  35. Các sắc phong tặng2 phút đọc · Lồng tiếng
  36. Bầu cử lý dịch8 phút đọc · Lồng tiếng
  37. Thuế khóa8 phút đọc · Lồng tiếng
  38. Binh lính4 phút đọc · Lồng tiếng
  39. Tạp dịch2 phút đọc · Lồng tiếng
  40. Hương học7 phút đọc · Lồng tiếng
  41. Khoán-ước8 phút đọc · Lồng tiếng
  42. Việc hiếu5 phút đọc · Lồng tiếng
  43. Việc hỉ2 phút đọc · Lồng tiếng
  44. Lệ khánh điếu5 phút đọc · Lồng tiếng
  45. Vợ chồng ly dị2 phút đọc · Lồng tiếng
  46. Tài chánh3 phút đọc · Lồng tiếng
  47. Nghĩa sương9 phút đọc · Lồng tiếng
  48. Hội chư bà4 phút đọc · Lồng tiếng
  49. Hội tư cấp6 phút đọc · Lồng tiếng
  50. Hội bách nghệ2 phút đọc · Lồng tiếng
  51. Tuần đinh3 phút đọc · Lồng tiếng
  52. Đạc phu1 phút đọc · Lồng tiếng
  53. Vua tôi6 phút đọc · Lồng tiếng
  54. Thầy trò4 phút đọc · Lồng tiếng
  55. Bầu bạn5 phút đọc · Lồng tiếng
  56. Quan dân5 phút đọc · Lồng tiếng
  57. Chủ, khách3 phút đọc · Lồng tiếng
  58. Chủ nhà, người ở2 phút đọc · Lồng tiếng
  59. Dâu gia2 phút đọc · Lồng tiếng
  60. Nho giáo9 phút đọc · Lồng tiếng
  61. Phật giáo10 phút đọc · Lồng tiếng
  62. Lão tử giáo5 phút đọc · Lồng tiếng
  63. Gia tô giáo8 phút đọc · Lồng tiếng
  64. Chính trị8 phút đọc · Lồng tiếng
  65. Văn chương19 phút đọc · Lồng tiếng
  66. Khoa cử10 phút đọc · Lồng tiếng
  67. Võ nghệ7 phút đọc · Lồng tiếng
  68. Nghề làm ruộng5 phút đọc · Lồng tiếng
  69. Nghề nuôi tằm5 phút đọc · Lồng tiếng
  70. Nghề bách công5 phút đọc · Lồng tiếng
  71. Nghề buôn bán6 phút đọc · Lồng tiếng
  72. Y dược8 phút đọc · Lồng tiếng
  73. Bốc phệ10 phút đọc · Lồng tiếng
  74. Địa lý8 phút đọc · Lồng tiếng
  75. Toán số8 phút đọc · Lồng tiếng
  76. Tướng thuật11 phút đọc · Lồng tiếng
  77. Phù thủy4 phút đọc · Lồng tiếng
  78. Thanh đồng6 phút đọc · Lồng tiếng
  79. Đồng cốt5 phút đọc · Lồng tiếng
  80. Cô hồn3 phút đọc · Lồng tiếng
  81. Các cách chiêm đoán12 phút đọc · Lồng tiếng
  82. Các cách chiêm nghiệm5 phút đọc · Lồng tiếng
  83. Xem ngày kén giờ6 phút đọc · Lồng tiếng
  84. Các việc kiêng kỵ4 phút đọc · Lồng tiếng
  85. Các phương thuật5 phút đọc · Lồng tiếng
  86. Tính tình8 phút đọc · Lồng tiếng
  87. Thanh âm ngôn ngữ5 phút đọc · Lồng tiếng
  88. Cách ẩm thực6 phút đọc · Lồng tiếng
  89. Cách phục sức6 phút đọc · Lồng tiếng
  90. Cư sở5 phút đọc · Lồng tiếng
  91. Để tóc3 phút đọc · Lồng tiếng
  92. Nhuộm răng2 phút đọc · Lồng tiếng
  93. Ăn trầu4 phút đọc · Lồng tiếng
  94. Hút thuốc lào3 phút đọc · Lồng tiếng
  95. Hát xẩm1 phút đọc · Lồng tiếng
  96. Hát ả đào6 phút đọc · Lồng tiếng
  97. Hát tuồng4 phút đọc · Lồng tiếng
  98. Cuộc tiêu khiển7 phút đọc · Lồng tiếng
  99. Cuộc cờ bạc6 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)