Nho giáo

Nước ta sùng trọng nhất là Nho giáo. Nguyên ủy Nho giáo lưu truyền kể cũng đã lâu: Bắt đầu từ vua Phục Hy chế ra bát quái, vua Hạ-Vũ dựng ra cửu trù, đã là gốc triết học của Nho giáo; Điển, mô, huấn, cáo là những lời khuyên răn của Đại-Vũ, Cao-Dao, Y-Doãn, Phó-Duyệt, đã là gốc luân lý học của Nho giáo; Nghiêu, Thuấn đặt ra điển hình, Châu-Công chế ra lễ nhạc, đã là gốc chính trị học của Nho giáo.

Đến đời Xuân-Thu có Đức Khổng phu Tử, ngài góp nhặt các lời lẽ, văn chương của các tiền thánh để dạy thiên hạ, từ đó mới thành lối học riêng gọi là Nho giáo. Mà muôn đời về sau, ai ai cũng suy tôn Ngài là Tiên-thánh, Tiên-sư.

Ngài húy là Khâu, biểu tự là Trọng Ni, Thánh phụ là Khổng-gia-Phủ, tự là Thúc-Lương-Ngột, làm quan nước Lỗ. Thánh mẫu là Nhan Thị, cầu tự ở núi Ni-sơn mà sinh ra ngài. Ngài sinh ngày hai mươi bảy tháng tám năm Canh Tuất là năm thứ hai mươi mốt đời vua Linh Vương nhà Châu, trước Thiên Chúa giáng sinh 445 năm, sinh tại làng Xương-bình huyện Khúc-phụ, nước Lỗ.

Ngoại thư chép rằng : Khi ngài mới sinh, có năm ngôi sao hiện làm năm ông già xuống sân mà thăm ngài, lại có ba con rồng phủ quanh nhà. Lời ấy là lời tục truyền, chắc là của người suy tôn đạo ngài, bày ra một điểm linh dị, để phân biệt với người thường.

Hồi ngài còn nhỏ, hay chơi những đồ biển đậu (như các thức đèn nến trẻ con chơi). Ngài bẩm tính sinh tri, thiên tư rất thông minh, học rộng kiến văn nhiều, biết thấu lẽ huyền diệu của tạo hóa. Vua nước Lỗ, nghe tiếng ngài là bực hiền thánh dùng ngài làm quan Tư-khấu (coi việc hình) và đã dùng ngài làm tướng, song chẳng bao lâu, vua nước Lỗ đam mê về vũ nhạc, trễ nải việc triều chính, ngài can ngăn không được mới xin từ chức.

Từ đó ngài đi chu du các nước chư hầu như: Tề, Vệ, Sở, Tống, v.v... Ngài mong đem đạo học của ngài để cứu đời, nhưng đi đến nước nào vua nước ấy cũng không biết tin dùng ngài. Đến khi ngài già, trở về nước Lỗ, mở trường học ở nơi Hạnh Đàn để dạy học trò. Ngài san định lại kinh thi, kinh thư, kinh dịch, kinh lễ, kinh nhạc, kinh xuân thu, gọi là lục kinh (sáu bộ sách). Ngài dạy người ta cốt nhất là những điều hiếu, đễ, trung, thứ, tu, tề, trị, bình. Hiếu để thờ cha mẹ cho có lòng thảo thuận, đễ để ở với anh em cho có lòng hòa thuận, trung để thờ vua cho hết lòng, thứ để ở với người ngoài cho biết suy bụng ta ra bụng người, tu là sửa cái nết trong mình, tề là đạo tề gia, trị là đạo trị nước, bình là đạo trị thiên hạ.

Tám điều nói đó là tôn chỉ của đạo ngài. Ngài lại dạy người ta lấy lục nghệ (sáu nghề). Lục nghệ là: Lễ (lễ nghi), nhạc (âm nhạc), xạ (phép bắn cung), ngự (phép cưỡi ngựa), thư (phép viết), số (phép tính). Lễ tức là một cách để giao thiệp, nhạc để dưỡng tính tình, xạ, ngự tức là các thể thao, số tức là toán pháp.

Học trò ngài đông tới ba ngàn người mà vào bực cao hiền được bảy mươi hai người. Trong bọn cao hiền lại duy có Nhan-Hồi, Tăng-Xâm là giỏi hơn hết.

Ngài thọ 73 tuổi thì mất, bấy giờ là ngày 18 tháng hai năm Nhâm Tuất là năm thứ 41 đời vua Kính Vương nhà Châu trước Thiên Chúa giáng sinh 373 năm.

Ngài mất rồi, thì học trò lập đền thờ ngay ở chỗ nhà ngài. Thầy Tăng Tử chép lời ngài soạn ra sách Đại Học, các học trò ghi chép lời ăn nết ở của ngài soạn ra sách Luận Ngữ, để truyền đạo giáo của ngài. Kế đến cháu ngài là thầy Tử Tư soạn ra sách Trung Dung, cách đời ngài 110 năm lại có thầy Mạnh Tử soạn ra sách Mạnh Tử cũng toàn là phát minh thêm đạo ngài, để truyền bá đi thiên hạ mà dạy người.

Từ đó thì đạo Nho mỗi ngày lưu truyền một rộng. Đến đời vua Cao-Tổ nhà Hán, mới lên ngôi vua, trước hết dùng lễ thái lao (một con trâu, một con bò và một con dê) thân đến tế ngài tại nơi nhà thờ. Các vua sùng đạo Nho từ trước đấy. Đến đời vua Vũ-Đế, đặt quan Bác sĩ đem năm kinh của ngài ra để dạy thiên hạ (vì kinh Nhạc đã mất từ khi nhà Tần đốt sách, cho nên chỉ còn năm kinh). Lại chuyên tôn đạo Khổng Tử mà bỏ cả sách vở của các nhà (như Lão Tử, Trang Tử, Dương Tử, Mặc Tử, v.v...) vì thế đạo Nho lại thịnh hơn nữa, mà từ đó mọi cách chính trị, đạo luân lý, khoa triết học của Tàu, nhất thiết đều tuân theo đạo Nho.

Trên thì có nhà vua tôn sùng, dưới thì có các nhà hiền triết đặt ra lời bàn câu nói, soạn ra sách nọ sách kia, đều để phát minh thêm cái nghĩa đạo Nho. Như là nhà Hán thì có Đổng Trọng Thư, Giả Nghị, Lưu Hướng, Trịnh Khang Thành; nhà Đường thì có Hàn Dũ, Liễu Tôn-Nguyên; nhà Tống thì có Chu Liêm Khê, Trình Minh Đạo, Trương Hoành Cử, Chu Khảo Đình, v.v... Các bậc ấy đều là danh nho một đời, có công duy trì đạo thống rất nhiều.

Nguyên, Minh trở về sau: đạo Nho lại càng thịnh hành. Quận ấp nào cũng có miếu thờ ngài gọi là Văn Miếu. Đâu đâu cũng tôn ngài là Chí thánh tiên-sư.

Nho giáo thịnh hành ở Trung-quốc rồi truyền gần khắp Á-đông; mà nước ta từ lúc nội thuộc nhà Hán, người Trung-quốc như ông Sĩ-Nhiếp, ông Tích-Quang đã đem đạo Nho mà rải rác sang nước ta. Đến đời vua Thánh Tôn nhà Lý mới lập Văn miếu (tức đền Giám Hà-nội bây giờ) thờ Tiên thánh; thờ kèm thầy Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử, gọi là Tứ phối; bọn thầy Tử-Cống, Tử Hạ cả thảy mười người, gọi là Thập triết. Ở ngoài hai bên tả mạc hữu mạc, thì thờ các vị cao hiền và thờ các bậc tiên hiền tiên nho từ đời nhà Hán, Đường cho đến nhà Nguyên, Minh. Các người ấy toàn là người Tàu, người nước ta thì sau mới thờ thêm ông Chu-văn-An là người làng Thanh-Liệt, huyện Thanh-Trì, ở về đời nhà Trần.

Văn miếu là một nơi duy trì đạo thống cho trong nước. Vua mỗi năm hai kỳ xuân thu dùng trọng lễ thân ra tế để tỏ lòng tôn sùng đạo ngài. Lại dùng kinh, truyện để thi học trò, dùng Nho thuật để trị thiên hạ. Các đời vua về sau, mỗi ngày mở mang thêm sự văn hóa thì đạo Nho lại mỗi ngày một thịnh thêm.

Vài chục năm nay nước ta tiêm nhiễm lối Âu-học, xem ra nhiều ý tưởng cao lạ, và nhiều sự thực nghiệm. Đạo Nho tuy cũng còn nhiều người sùng mộ, nhưng cũng nhiều người tùy thời mà theo về lối Âu-châu. Mà trong việc học hành chữ Nho cũng không được thịnh như trước nữa. Ở Sài gòn thì bây giờ không còn mấy người tinh thông chữ Nho, ở Bắc-kỳ ta có lẽ vài chục năm nữa cũng vậy. Ấy cũng là một cơ hội xoay đổi quan hệ đến vận nước hay dở mai sau.

Đạo nho là một đạo bình thường giản dị, thuận lẽ tự nhiên của tạo hóa, và hợp với tính tình đương nhiên của người ta, ai cũng có thể noi theo được. Người mà có Nho học, thì nên một người có nết na, có phép tắc, có lòng nhân ái. Nước mà dùng Nho đạo, thì nên một nước có kỷ-cương, có thể thống; dễ cho việc cai trị, mà nhân dân cũng được hưởng hạnh phúc hòa bình.

Duy có một điều triết-lý thì nhiều điều viển vông, mà khiến cho người ta khó hiểu, thủ lễ thì lắm sự câu thúc, mà khiến cho người ta khó theo. Tính tình thì chuộng một cách êm ái hòa nhã, khiến cho dân khí nhu nhược, không được hùng dũng hoạt động như tính người Âu-châu, nhu dụng thì chuộng một cách tiết kiệm tầm thường, khiến cho kỹ-nghệ thô sơ, không được tinh xảo phát đạt như các nước Thái-Tây. Nói rút lại thì đạo Nho là một đạo tự trị thì rất hay, mà đem đối với đời cạnh tranh thì không mạnh. Còn như các thói hủ bại, phần nhiều là bởi tự người làm nên tệ, chớ không nên đổ cho tại Nho-giáo.

Tuy vậy, nước ta cũng nhờ có Nho học, mới theo được các cách văn minh của Tàu, mà nên một nước có văn chương, có chính trị, có luân thường, có học thức. Nếu trước khi chưa có Âu học, mà lại không có Nho học, thì nước ta chẳng qua cũng là một nơi mọi rợ mà thôi. Vậy thì công Nho giáo truyền sang nước ta rất to, dẫu khi nào nhờ được Âu-học mà nên một nước thịnh vượng hơn trước, ta cũng không nên quên cái công ấy. Vì cái công ấy đã mở mắt trước cho ta, ví như đứa trẻ thơ, trước nhờ một ông thầy dạy bảo cho mở một đôi chút trí khôn, về sau dẫu có nhờ được ông thầy khác, học được thêm khôn thêm khéo, thì cũng không nên quên hẳn công ông thầy trước.

Vả cứ theo đạo Nho mà dùng cho khéo, bỏ những điều câu thúc hủ bại, mà đem cách trí, tư tưởng mới để bổ vào những nơi khuyết điểm thì cũng nên được một nước phú cường thịnh vượng, mà có lẽ lại hay hơn nữa.

Tôi thấy gần nay các ông cựu nho, thở vắn than dài riêng với nhau rằng đạo Nho ta suy đồi, sắp đến ngày tuyệt diệt.

Tôi thiết tưởng vật gì lâu ngày cũng phải mục nát, mà đạo nào có lúc thịnh cũng có lúc suy. Huống chi một thời biến đổi, là một cơ hội của tạo hóa xoay vần, cái nền cũ có đổ nát, thì mới gây nên được cái nền mới. Vậy thì hội này chính là dịp tấn hóa của nước ta vậy.

Hết Nho giáo

Đây là chương 60/99 của Việt Nam phong tục. Việt Nam phong tục là công trình khảo cứu của Phan Kế Bính (1875–1921).

Chuyện đến đâu rồi?

Cuốn khảo cứu này bắt đầu từ lời tựa của Phan Kế Bính, người khẳng định mỗi nước có phong tục riêng và nên cải cách dần, giữ lại quốc túy. Sách trình bày theo thứ tự từ gia tộc đến làng xã rồi xã hội: từ cha mẹ con cái, anh em, thân thuộc, thờ phụng tổ tiên, đạo hiếu, đến hôn nhân, tang ma, cải táng, giỗ kỵ và tết lễ. Đến chương 60, tác giả dừng ở Nho giáo: lược kể nguồn gốc từ Khổng Tử và các học trò, sự truyền bá vào Việt Nam cùng việc lập Văn Miếu, và nhận định Nho học vừa có ưu điểm vừa có hạn chế.

Tác giả mất từ năm 1975 trở về trước — tác phẩm đã hết thời hạn bảo hộ quyền tác giả, được đăng toàn văn. Nguồn: vi.wikisource.org/wiki/Việt Nam phong tục.

Việt Nam phong tụcNho giáo
Chế độ đọc
Nghe sách nói (bản ghi âm)

Giọng thuyết minh

Trên web, Truyện Ơi đọc bằng giọng có sẵn trong máy của bạn; thời gian thuyết minh tính vào 15 phút nghe miễn phí mỗi ngày (Premium không giới hạn). Ứng dụng Truyện Ơi có các giọng thuyết minh riêng (Đức Trí, Tâm Đức, Thu Uyên, Hà Phương).

Hết 15 phút nghe miễn phí hôm nay

Thuyết minh và sách nói trên trình duyệt này có 15 phút miễn phí mỗi ngày; ngày mai bạn lại có 15 phút. Đọc chữ thì không giới hạn.

Nghe tiếp trong ứng dụng Truyện Ơi — xem quảng cáo để có thêm phút nghe, hoặc dùng Premium.

Premium

Nghe không giới hạn, không quảng cáo. Premium mua trong ứng dụng dùng được cả trên web khi đăng nhập cùng tài khoản.

Đăng nhập

Cài đặt đọc

Màu nền

Cỡ chữ ·

Giãn dòng ·

Lề trang

Canh lề chữ

Phông chữ

Kiểu đọc

Mục lục · 99 chương

  1. Tựa3 phút đọc · Lồng tiếng
  2. Cha mẹ với con9 phút đọc · Lồng tiếng
  3. Anh chị em5 phút đọc · Lồng tiếng
  4. Thân thuộc5 phút đọc · Lồng tiếng
  5. Phụng sự tổ tôn6 phút đọc · Lồng tiếng
  6. Đạo làm con3 phút đọc · Lồng tiếng
  7. Thượng thọ1 phút đọc · Lồng tiếng
  8. Sinh nhật1 phút đọc · Lồng tiếng
  9. Thần hoàng2 phút đọc · Lồng tiếng
  10. Tang ma14 phút đọc · Lồng tiếng
  11. Cải táng4 phút đọc · Lồng tiếng
  12. Kỵ nhật3 phút đọc · Lồng tiếng
  13. Tử thời tiết lạp18 phút đọc · Lồng tiếng
  14. Giá thú11 phút đọc · Lồng tiếng
  15. Vợ chồng10 phút đọc · Lồng tiếng
  16. Vợ lẽ5 phút đọc · Lồng tiếng
  17. Cầu tự3 phút đọc · Lồng tiếng
  18. Nuôi nghĩa tử3 phút đọc · Lồng tiếng
  19. Sự thần8 phút đọc · Lồng tiếng
  20. Việc tế tự9 phút đọc · Lồng tiếng
  21. Nhập tịch7 phút đọc · Lồng tiếng
  22. Đại-hội26 phút đọc · Lồng tiếng
  23. Lễ kỳ an6 phút đọc · Lồng tiếng
  24. Chùa chiền7 phút đọc · Lồng tiếng
  25. Văn-từ, văn-chỉ4 phút đọc · Lồng tiếng
  26. Kỵ hậu4 phút đọc · Lồng tiếng
  27. Công quán2 phút đọc · Lồng tiếng
  28. Am chúng sinh5 phút đọc · Lồng tiếng
  29. Ngôi thứ6 phút đọc · Lồng tiếng
  30. Viên chức7 phút đọc · Lồng tiếng
  31. Hương ẩm6 phút đọc · Lồng tiếng
  32. Lễ khao vọng3 phút đọc · Lồng tiếng
  33. Lệ kính biếu4 phút đọc · Lồng tiếng
  34. Đăng khoa4 phút đọc · Lồng tiếng
  35. Các sắc phong tặng2 phút đọc · Lồng tiếng
  36. Bầu cử lý dịch8 phút đọc · Lồng tiếng
  37. Thuế khóa8 phút đọc · Lồng tiếng
  38. Binh lính4 phút đọc · Lồng tiếng
  39. Tạp dịch2 phút đọc · Lồng tiếng
  40. Hương học7 phút đọc · Lồng tiếng
  41. Khoán-ước8 phút đọc · Lồng tiếng
  42. Việc hiếu5 phút đọc · Lồng tiếng
  43. Việc hỉ2 phút đọc · Lồng tiếng
  44. Lệ khánh điếu5 phút đọc · Lồng tiếng
  45. Vợ chồng ly dị2 phút đọc · Lồng tiếng
  46. Tài chánh3 phút đọc · Lồng tiếng
  47. Nghĩa sương9 phút đọc · Lồng tiếng
  48. Hội chư bà4 phút đọc · Lồng tiếng
  49. Hội tư cấp6 phút đọc · Lồng tiếng
  50. Hội bách nghệ2 phút đọc · Lồng tiếng
  51. Tuần đinh3 phút đọc · Lồng tiếng
  52. Đạc phu1 phút đọc · Lồng tiếng
  53. Vua tôi6 phút đọc · Lồng tiếng
  54. Thầy trò4 phút đọc · Lồng tiếng
  55. Bầu bạn5 phút đọc · Lồng tiếng
  56. Quan dân5 phút đọc · Lồng tiếng
  57. Chủ, khách3 phút đọc · Lồng tiếng
  58. Chủ nhà, người ở2 phút đọc · Lồng tiếng
  59. Dâu gia2 phút đọc · Lồng tiếng
  60. Nho giáo9 phút đọc · Lồng tiếng
  61. Phật giáo10 phút đọc · Lồng tiếng
  62. Lão tử giáo5 phút đọc · Lồng tiếng
  63. Gia tô giáo8 phút đọc · Lồng tiếng
  64. Chính trị8 phút đọc · Lồng tiếng
  65. Văn chương19 phút đọc · Lồng tiếng
  66. Khoa cử10 phút đọc · Lồng tiếng
  67. Võ nghệ7 phút đọc · Lồng tiếng
  68. Nghề làm ruộng5 phút đọc · Lồng tiếng
  69. Nghề nuôi tằm5 phút đọc · Lồng tiếng
  70. Nghề bách công5 phút đọc · Lồng tiếng
  71. Nghề buôn bán6 phút đọc · Lồng tiếng
  72. Y dược8 phút đọc · Lồng tiếng
  73. Bốc phệ10 phút đọc · Lồng tiếng
  74. Địa lý8 phút đọc · Lồng tiếng
  75. Toán số8 phút đọc · Lồng tiếng
  76. Tướng thuật11 phút đọc · Lồng tiếng
  77. Phù thủy4 phút đọc · Lồng tiếng
  78. Thanh đồng6 phút đọc · Lồng tiếng
  79. Đồng cốt5 phút đọc · Lồng tiếng
  80. Cô hồn3 phút đọc · Lồng tiếng
  81. Các cách chiêm đoán12 phút đọc · Lồng tiếng
  82. Các cách chiêm nghiệm5 phút đọc · Lồng tiếng
  83. Xem ngày kén giờ6 phút đọc · Lồng tiếng
  84. Các việc kiêng kỵ4 phút đọc · Lồng tiếng
  85. Các phương thuật5 phút đọc · Lồng tiếng
  86. Tính tình8 phút đọc · Lồng tiếng
  87. Thanh âm ngôn ngữ5 phút đọc · Lồng tiếng
  88. Cách ẩm thực6 phút đọc · Lồng tiếng
  89. Cách phục sức6 phút đọc · Lồng tiếng
  90. Cư sở5 phút đọc · Lồng tiếng
  91. Để tóc3 phút đọc · Lồng tiếng
  92. Nhuộm răng2 phút đọc · Lồng tiếng
  93. Ăn trầu4 phút đọc · Lồng tiếng
  94. Hút thuốc lào3 phút đọc · Lồng tiếng
  95. Hát xẩm1 phút đọc · Lồng tiếng
  96. Hát ả đào6 phút đọc · Lồng tiếng
  97. Hát tuồng4 phút đọc · Lồng tiếng
  98. Cuộc tiêu khiển7 phút đọc · Lồng tiếng
  99. Cuộc cờ bạc6 phút đọc · Lồng tiếng

Chuyện đến đâu rồi?

Tóm tắt đến hết chương này

Giao diện

Bố cục

Màu nền

Giao diện sự kiện (màu, hoạ tiết dịp lễ)